Thứ Hai, 17 tháng 12, 2018

VUI MỘT TÝ

VUI MỘT TÝ
Chị em cũng chẳng chịu thua
Chân dài váy ngắn bóng đưa điệu đàng
Trên sân cỏ rộng mênh mang
Núi xanh mây trắng gíó ngàn bao la
Hà Giang cũng chẳng mấy xa
Bạn nào yêu bóng, yêu hoa thì về.

TK

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018

BÃO NỮA ĐI EM!














BÃO NỮA ĐI EM!
Dù không phải là chiến thắng Điện Biên
Hay máy bay B52 rơi giữa lòng Hà Nội
Cũng chẳng phải chiến dịch 30-4 vĩ đại
Mà hôm nay cả nước xuống đường
Tiếng trống, tiếng kèn điệu hát yêu thương
vui quá là vui nụ cười trong nước mắt
Một trận đấu cúp vàng chiến thắng
Đã khẳng định mình, dân tộc một không hai
Chân đất, đầu trần ơi những chàng trai
Đứng trước đối phương không hề khiếp sợ
Trong thời bình các bạn là người thợ
Là anh hùng là dáng đứng Việt Nam
Tình yêu thể thao như bạc như vàng
Vẫn phải đổi mồ hôi và nước mắt
Áo đỏ trên sân, cỏ màu xanh ngắt
Quả bóng lăn mang hữu nghị hòa bình
Để hôm nay ngôi vô địch quang vinh
Tỏa sáng trong tim 90 triệu người gần lại
Rực sắc cờ hoa, đỏ đường Hà nội
Cả nước ăn mừng bão nổi khắp nơi nơi
Bão nữa đi em!
Ôi chiến thắng tuyệt vời….

22 h ngày15-12-2018

VIÊT NAM VÔ ĐỊCH
Hồi hộp từng giây phút đợi chờ
Vỡ oà chiến thắng tựa trong mơ
Việt nam vô địch AFF
Đất nước đêm nay đỏ sắc cờ.
21.30” ngày 15-12-2018


TRƯỚC GIỜ BÓNG LĂN
Việt nam đất nước ta ơi
Màu cờ sắc áo sáng ngời niềm tin
Nức lòng bao triệu con tim
Quyết tâm vô địch ghi tên bảng vàng
18”30 ngày 15-12-2018



Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

TÌNH YÊU QUÁ KHÍCH



TÌNH YÊU QUÁ KHÍCH
Tôi yêu trái bóng, tôi yêu
Văn minh lịch sự là điều đáng ghi
Đam mê ai có trách gì
Nhưng mà quá khích vậy thì không nên
Thể thao, vui chớ có quên
Mang tính giáo dục vững bền muôn sau
Việc làm phải nghĩ nông sâu
Thương binh càn quấy việc đâu hay gì
Có công, dân biết dân ghi
Hàng ngàn người, chứ mình gì bạn đâu
Ra đường “bão” nổi đêm thâu
Đua xe, tai nạn đi chầu Diêm vương
Hở hang phản cảm ngoài đường
Nhố nhăng lời nói, người thương buồn lòng
Màu cờ sắc áo cầu mong 
Trận đầu toàn thắng đẹp trong tình người.
11-12-2018

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2018

ĐẠI LẢI



Đáy sâu  in bóng trời xanh
Nước hồ Đại Lải trong lành mênh mang
Rừng thông lá biếc mơ màng
Giữa vùng non nước, ríu ran đảo cò
Đường nên tháp cổ vòng vo
Hang dơi  sâu thẳm, câu hò vẳng xa
Sân Golf – Resort  bao la
Hoang sơ mảnh đất quê ta tình người
Sán Dìu em gái xinh tươi
Như bông dại giữa nơi gió ngàn
Soọng Cô” * tiếng hát chứa chan
Như mời, như gọi anh sang, em chờ
Phúc Yên  cảnh đẹp mộng mơ
Bức tranh Đại Lải ngẩn ngơ người về.

*”Soong Cô” tục hát giao duyên của dân tộc Sán Dìu

 


Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2018

VỀ HỘI THƠ


Biết rằng " Đến hẹn lại thơ" 
Mà sao vẫn ngóng, vẫn chờ thi nhân 
Ngẩn ngơ câu lục lạc vần
Bâng khuâng câu bát trước sân đón mời

Hẹn rằng nếu bạn ghé chơi
Cua đồng ngọt với mồng tơi, tập tàng
Nhưng hiềm đông cũng vừa sang 
Heo may rải ruộng, cải vàng xuống hoa
Vườn cà mùa cũng đã qua
Sông khô nước cạn, lưới trà bỏ không

Thôi thì đặc sản nhà nông
Bánh cuốn chả với rượu nồng cùng vui
Đọc thơ chia ngọt sẻ bùi 
Bên bờ ao, gió vương mùi đất quê.

2-11-2018 

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2018

VỀ QUÊ


Cơm nhà với bát canh cua
Bắt từ ruộng trũng đồng chua mang về
Tập tàng, rau của vườn quê
Quả cà muối sạch ven đê tự trồng
Cùng bát kho tộ cá sông
Bờ ao ngóng chút gió đồng mênh mang
Đâu cần hưởng thụ cao sang
Mái nhà cấp bốn thênh thang vui vầy
Tự do hạnh phúc là đây
Không khen cũng chẳng ai rày đến ta.
28-11-2018

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2018

Nhớ làng



  
Bỗng dưng lại nhớ tới làng
Nhớ bờ tre đã ngá vàng bóng thu
Nhớ lời ấm áp mẹ ru
Bâng khuâng mái lá sương mù giang ngang

Quang trành níu nặng vai mang
Còn nghe tiếng vọng người sang gọi đò
Ngẩn ngơ vịn những câu hò
Nổi chìm sông nước cánh cò xa quê

Bỗng dưng nhớ tới con đê
Trời quang gió hát, lời thề cỏ may
Nhớ em tay đã cầm tay
Tháng năm hoa phượng rắc đầy lối xưa

Nồng nồng vị mặn đồng chua
Vuông khăn em tránh gió lùa tóc xanh
Gàu ngiêng đổ ánh trăng thanh
Ngàn vì sao tắm vại sành đêm khuya

Nhớ ngày hạt thóc thu, chia
Sân kho hợp tác đi về kẻng thôn
Sông quê tím nhạt hoàng hôn
Cổng làng vẫn đợi , chân chồn mỏi vai

Hồn làng mãi đọng trong ai
Chiều quê cây gạo bóng dài đường thôn.
24-11-2018

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2018

CÚC HỌA MI

Ảnh minh họa intenet














Mùa đông Hà thành lạnh lắm phải không em
Cái rét tràn về cây bàng đỏ lá
Ánh đèn vàng xua tan miền sương giá
Cánh đồng hoa e ấp đợi xuân về
Nhớ năm xưa anh rời bước xa quê
Đường vắng Âu Cơ trắng màu hoa dại
Đi bên em mà lòng xao xuyến mãi
Áo mỏng manh sương thấm lạnh vai gầy
Bấc lại về trời nặng vũ vần mây
Từng đàn chim xa bay về tránh rét
Hàng liễu Tây Hồ lá thêm xanh biếc
Bãi sông Hồng, hoa nở trắng tinh khôi
Anh ví em như cúc họa mi thôi
Nhỏ nhắn mảnh mai giữa dòng đời sóng gió
Không mạnh mẽ như hoa hồng đỏ
Không kiêu sa rực, những nhành lan
Không ngát hương như ly, như Huệ
Mà dịu dàng thơm nhẹ tỏa trong đêm
Anh thương em
như cúc họa mi thôi
Chân chất quê mùa, mọc lên hoang ngái
Chẳng quản gió mưa, đông về tê tái
Vẫn trắng trong nét đẹp chẳng phôi pha
Không bon chen nơi đô thị phồn hoa
Dâng hiến cho đời tình yêu thuần khiết
Ở nơi xa em ơi anh vẫn biết
Họa mi dịp này
đang nở trắng đợi chờ anh.
23-11-2018 ĐTK

NGÀY ẤY






















NGÀY ẤY
(Kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam)
Thế hệ chúng tôi
Học con chữ từ những hố bom
Từ cánh đồng làng, từ mái nhà tranh nghèo nơi sơ tán
Chiếc nùn rơm theo chân hàng sáng
Không thể quên như mũ bảo hiểm bây giờ
Lớp trống không, gió lùa tứ phía
Thông sang bên là công sự với hầm
Máy bay mỹ xé ngang lời thày giảng
Tiếng bom rung, hoa phượng rắc đỏ đường
Chúng tôi hiểu
Mỗi con chữ thày cô là nước mắt
là mồ hôi, là xương máu của bao người
Củ sắn, củ khoai trái ổi một thời
Đã nuôi lớn, thế hệ làm nên lịch sử
Chúng tôi ra đi
Mang con chữ từ hố bom vách đất
Bay lên trời thành những chiếc phi cơ
Hạ gục bao con ma, thần sấm
Xuống biển khơi
con chữ là những quả thủy lôi
nhấn tàu địch chìm trong lòng biển cả
Xẻ dọc Trường Sơn, con chữ thành chùm lửa
Vì độc lập tự do thiêu cháy quân thù
Thế hệ chúng tôi,
nay dù ở nơi đâu
Vẫn văng vẳng lời thày cô đã giảng
Và hôm nay tóc thày, trò đã bạc
Con chữ làm người, đâu có thể nào quên
ĐTK

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2018

MỘT MÌNH


Bạn thơ mưa quá chẳng sang
Một mình một chén trà vàng nhâm nhi
Xem bóng đá, chán lại đi
Ngắm hoa, đọc báo, ngày gì dài ghê.
Chủ nhật ngày 11-11-2018

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2018

LÍNH VÀ THƠ


Ngày xưa người bé tẻo teo
Mà sao vượt núi băng đèo khỏe ghê
Bốn lăm cân, khám loại bê
Mặc bộ áo lính bốn bề thênh thang
Trên vai súng đạn nặng mang
Một thời đánh giặc vẻ vang trở về

Hoà bình cuộc sống nơi quê
Khó khăn lăn lộn đủ nghề đắng cay
Thân gày như lá heo may
Nghĩ càng thương lại những ngày đã qua

Tóc giờ hoa tuyết bay qua
Kinh tế đời sống gần xa đủ đầy
Vóc người tuy chẳng bằng Tây 
Nhưng cũng vạm vỡ hơn ngày năm xưa

Ăn uống không dám dùng bừa
Tiểu đường huyết áp chẳng chừa hỏi thăm
Tham quan du lịch hàng năm
Ngày chăm thể dục tối nằm nghĩ thơ

Già rồi dở chứng mộng mơ
Đam mê văn nghệ ngẩn ngơ thi đàn
Bạn bè tụ tập mời sang
Chén trà, điếu thuốc ngập tràn lời hay

Mặc cho gió cuốn mây bay
Thơ và lính của quãng ngày hoàng hôn.
8-11-2018

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

CHỒNG CHÉO


Đường phố mới rải nhựa xong
Vừa phẳng vừa mịn xe vòng nhẹ bon
Thời gian mấy tháng chưa mòn

Tiêu úng thay cống, vuông tròn cắt ra
Xong rồi vá lại như “hoa”
Cáp quang hạ thổ gần xa đẹp nhìn
Lại ông điện lực ưu tiên
Hai bên xẻ rãnh ống liền đặt dây
Hanh khô đất bụi phủ đầy
Trong nhà, ngoài quán ngọn cây mịt mờ
Mặt đường san chắp gập gờ
Còn giao thông, lại bao giờ sửa đây.
Chéo chồng dự án trên mây
Tiền dân chịu mãi cảnh này thế sao.
10-2018

MẤT NGỦ


Cải tiến, cải lùi mãi chẳng thôi
Chôn dây, đường điện mấy đêm rồi
Máy cưa, máy đục âm màng nhĩ
Cẩu xúc, khoan, đầm điếc cả tai
Nhắm mắt giật mình không ngủ được
Mơ màng váng óc thuốc vài mồi
Ước gì nhanh chóng xong công việc
Cho phố yên bình, khổ quá thôi.
30-10-2018

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2018

CHUYẾN HÀNG NHỚ MÃI

CHUYẾN HÀNG NHỚ MÃI
Truyện ngắn

Ngồi trên xe khách tuyến Hà Nội -Kim Sơn Ninh Bình, tôi dấu túi tiền giữa đống bạt, ngồi đè lên mà lòng vẫn thấp thỏm, nhìn ai cũng như kẻ trộm.
Tôi và H cùng là bộ đội từ chiến trường ra, đã trải qua bao trận đánh không sao, mà hôm nay lại hồi hộp lạ thường. Số tiền vay này mà mất thì bao giờ mới trả nổi, rồi còn cuộc sống tiếp theo sẽ ra sao cứ nghĩ đến là toát mồ hôi.
Xe rời bến cóc lúc 12 giờ trưa tại Hà Nội, 5 giờ chiều tới Kim Sơn Ninh Bình an toàn. Hai chúng tôi vác bó bạt xuống xe, vào chợ lúc này đã vãn người, các hàng quán nghỉ cả, chúng tôi lại lững thững ra quán ăn ven đường
Thôi gọi chút gì qua quéo cho xong bữa. tôi nói.
- H thì trầm ngâm ít nói, tôi biết anh cũng đang lo lắng trăn trở, tối nay ngủ đâu cho an toàn và thu mua hàng hóa ra sao.
Đây rồi có nhà hàng cơm bụi. Chúng tôi rẽ vào, chị chủ quán đon đả mời, rồi hỏi:
-Trông hai chú như ở nơi xa đến đây lần đầu
-Tôi nói: dạ chúng tôi từ Hải Dương vào đón người nhà đang đóng chiếu ở chợ này
Vậy à họ trọ nhà ai và lấy hàng của chủ nào các chú có biết không? Chị chủ quán hỏi
-Cũng nghe nói nhà gần chợ thôi chứ chưa biết chính xác ạ
-Các chú cứ bình tĩnh, cơm xong tôi chỉ nhà cho, các chú vào hỏi khắc biết
Đúng là ăn mày gặp chiếu manh, chúng tôi mừng quá ăn xong vội chia tay chị chủ quán. Theo lời chỉ dẫn tôi lần đến một ngôi nhà sát chợ. Nói là nhà chứ nó là một cái lán rộng lợp lá cọ, vách là phên cói đan tềnh toàng trên bãi cỏ rộng lớn. Nhà đang thắp đèn sáng , nghe tiếng gọi chủ nhà là người đàn bà hơn chúng tôi khoảng chục tuổi trông vẻ phúc hậu hiền lành tiếng nói rất dễ nghe
-Các chú hỏi ai ạ
-Tôi vội trả lời: chúng tôi từ Hải Dương vào đóng hàng
Chưa kịp hỏi bà đon đả: “Quê chú có ai đã vào đây chưa”
-Dạ có mấy người tôi nói tên, nhưng không biết họ lấy hàng ở đâu
-Bà cười: “ồ thế là các chú gặp may rồi họ lấy hàng ở đây, mới về hôm qua”
-Các chú vào uống nước, tôi tìm chỗ nghỉ cho, sáng mai ra đây cần hàng gì chúng tôi cung cấp đầy đủ
-Bà tự giới thiệu tên là Đoàn nhà ở cách đây 2km. Lán này là nơi con gái con rể thuê để làm chiếu . Vợ chồng nó tên là Nhung –Vinh
Nói chuyện một lát chúng tôi theo bà vào trong xóm, đến cổng một nhà, bà vào trước một lát sau có người đàn ông ra đón vào. Trông ông ta nhỏ người đen chắc như người vùng biển, khuôn mặt khắc khổ có vẻ như dân anh chị, ông ta hỏi các anh vào đóng chiếu hả? tôi nói vâng! rồi ông dẫn vào phòng trong chỉ chỗ nằm và nói: “ các chú mệt thì đi nghỉ hoặc muốn xem TV thì ra ngoài này”.
Tôi nói: chúng em đi nghỉ ạ
Ông nói: “Tiền hàng đâu tôi cất vào tủ cho, sáng mai đi chợ hãy lấy”. Thấy tôi có vẻ ngần ngừ ông ta cười.
Thôi thì đã vào đây rồi mặc cho số phận, tôi lấy gói tiền đưa cho ông cất vào tủ, nghe tiếng khóa lách cách, rồi ông đưa cho tôi chiếc chìa. Tôi nghỉ cũng chẳng cần thiết tủ chắc cũng vài ba chiếc chìa mình có cầm một cái thì cũng chẳng ích gì. Người mệt lại lo lắng, nằm mãi không ngủ được suy nghĩ miên man.
Chả là làm ăn dạo này ngày một khó khăn, thóc gạo bão hòa. Chính sách ngăn sông cấm chợ đã được xóa bỏ nên việc làm hàng xáo và mang gạo lên tỉnh bán lờ lãi chẳng được là bao. Ruộng đồng mới thực hiện khoán quản. Quê tôi đông dân, đất hẹp mỗi khẩu không nổi sào ruộng. Nhà nhà tận dụng mọi lao động và thời gian 2 mùa cấy mùa gặt chỉ diễn ra khoảng một háng là xong còn 5 tháng nông nhàn, ăn thì không mấy cái tiêu mới là lớn, con cái học hành, giỗ tết, đám ma đám cưới cái gì cũng bằng tiền. Ngoài nông nghiệp mọi người phải bôn ba khắp nơi làm thuê và buôn bán. Không biết từ bao giờ làng tôi phát triển nghề bán chiếu rong, lúc đầu chỉ vài người ra phố Hàng Chiếu -Hà nội lấy lại hàng của mấy cửa hàng, rồi vác đi bán dạo phố, tối về ngủ trọ ở bãi Phúc Tân bên bờ sông Hồng.
Lúc đầu hàng bán rất chạy vác chiếu chỉ đi một hai con phố đã hết, chiều nghỉ ngơi sáng mai lại đi. Do kiếm được nên mẹ rủ con, anh rủ em, vợ rủ chồng tất cả thu xếp công việc nhà nông cùng ra thành phố mới có vài ba năm làng tôi khởi sắc hẳn lên. Dăm bữa nửa tháng về có khoản tiền mua sắm đồ dùng cho con ăn học. và xây dựng nhà cửa.
Càng ngày việc bán hàng càng phát triển lên, theo yêu cầu thị trường, không vác bộ nữa dùng xe đạp, chở nhiều và đi xa hơn.
Làng xóm bây giờ chỉ đông người vào thời vụ nhưng khi nông nhàn còn toàn người già và trẻ em ở nhà,.
Theo nghề chung của làng, là thương binh đã từng lăn lộn làm kinh tế, không quản ngại vất vả sang hèn, tôi cũng ra đi mưu sinh nơi thành phố. Với chiếc xe đạp đi khắp nơi mỗi ngày tới 50-60 cây số rong ruổi trên đường. Cứ mỗi đợt đi nửa tháng nghỉ về quê 3 ngày rồi lại đi tiếp. Thị trường khó khăn dần có hôm bán được, có hôm đi cả ngày rạc cả người mà chẳng có người mua, sáng trưa gặp gì ăn nấy, tối về cơm bụi giá rẻ miễn là lo bụng là được.
Hàng hóa giá gốc ngày một nâng cao vì nông thôn người ra ngày càng đông nên chủ hàng tăng giá, nhà trọ cũng khó khăn hơn, đợt đi tiết kiệm hết mức nhưng khi về chẳng còn được là bao. Cái khó làm rõ cái khôn ở làng nhiều người vào tận nơi sản xuất mua về bán nhưng cũng chẳng được bao nhiêu vì tiền thuế, tiền cửu vạn rồi cước xe.
- Tôi thì nghĩ: nếu vào tận Ninh Bình đóng hàng tận gốc. thì phải đóng nhiều giá thành mới hạ, đồng thời tìm nhà trọ riêng rủ anh em, bạn bè đến ở rồi cùng bán. Hàng giao rẻ hơn bên phố Hàng Chiếu, người bán hàng có chỗ ở không mất tiền việc này chắc ổn.
Thế là tôi rủ một anh bạn H cùng xóm chung làm, kế hoạch bàn bạc kỹ nhưng cái khó là không có vốn, nhưng quyết tâm làm, chúng tôi vay lãi tháng của cậu Sở bán thịt lợn cùng quê 5 triệu đồng( Thời điểm năm 1995 giá trị rất lớn). Rồi tìm ngày đẹp lên đường vào Kim Sơn đóng hàng .
Đèn bật sáng và có tiếng động mở cửa chắc gia đình đã dậy ra chợ, thấy tôi dậy ông chủ liền hỏi đêm qua có ngủ được không?
Tôi trả lời: “ lạ nhà trăn trở mãi gần sáng cũng ngủ được”
Ông ta cười như hiểu được lòng tôi rồi bảo: “ Chú mở tủ lấy tiền rồi cứ vất chìa khóa trên bàn cũng được, tôi đi làm đây.
Tôi gọi H dậy đánh răng rửa mặt xong cũng ra chợ luôn , trời lúc này chưa sáng nhưng đã tấp nập, những xe xích lô xếp đầy chiếu ra vào cổng chợ, xen bên là những hàng quà bánh ăn sáng còn thắp đèn. Tôi đi qua một lượt thấy hàng hóa nhiều và rẻ, rồi vào nhà Nhung. Giống mẹ Nhung nói năng rất nhẹ nhàng: “các anh sáng ra chợ mua hàng rồi đến trưa về đây ăn cơm với em thiếu gì, cần bao nhiêu chúng em cung cấp, giá có giá làng các anh khỏi lo”. Chồng Nhung tên là Vinh chắc cũng trạc tuổi như nhau khoảng ngoài 30, cao ráo đẹp trai vẻ hiền lành, gặp chúng tôi chỉ cười ít nói. Cậu ta đang xếp lò hấp chiếu ( bởi vì chiếu khi in hoa xong phải hấp chín bằng hơi nước thì màu mới tươi và không phai)
Lần đầu tiên về Kim Sơn tôi mới biết 80% dân nơi đây theo Đạo, có nhà thờ đá cổ kính và to nhất nước, người dân rất thật thà tốt bụng.
Sau này vào nhiều tôi mới có dịp tham quan chiêm ngưỡng
Nhà thờ đá không những đẹp mà còn là một kỳ quan rất lạ, vì những kèo, cột rồi từng con song cửa đến mái nhà toàn là đá. Bác hướng dẫn viên kiêm trông coi nhà thờ kể rằng: “Ngày xưa nhà thờ được một vị quan thương thư trong triều Nguyễn đã cung tiến và đứng lên xây dựng”. Ngày ấy biển còn sát nơi đây, gỗ đá từ Thanh Hóa chuyển vào theo đường biển rồi theo dòng sông thẳng tắp vào đây. Những con sông này là do cụ Nguyễn Công Trứ về đây khai hoang lấn biển và hướng dẫn dân đào, vừa lấy nước ngọt cấy trồng, vừa làm đường giao thông.
Nhà thờ đá xây dựng năm 1883, ngày ấy không có xe cẩu toàn dùng sức người, xúc cát tôn cao như núi rồi kéo cột đá xà đá vào dựng lắp xong lại xúc cát ra. Phía trong được chạm nhiều bức phù điêu đẹp, đặc biệt là bức chạm tứ quý: tùng, mai, cúc, trúc, tượng trưng cho thời tiết và vẻ đẹp riêng của bốn mùa trong một năm. Ðường nét khắc họa những con vật như sư tử, rồng phượng sống động đến lạ thường
Nhà thờ chính được xây dựng từ năm 1891 với tên chính thức là Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi, nay là nhà thờ chính tòa của vị Giám mục Phát Diệm. Nhà thờ lớn dài 74m, rộng 21m, cao 15m, có bốn mái và có năm lối vào dưới các vòm đá được chạm trổ. Trong nhà thờ có 6 hàng cột gỗ lim (48 cột) nguyên khối, hai hàng cột giữa cao tới 11m, chu vi 2,35m, mỗi cột nặng khoảng 10 tấn. Gian thượng của thánh đường có một bàn thờ lớn làm bằng một phiến đá nguyên khối dài 3m, rộng 0,9m, cao 0,8m, nặng khoảng 20 tấn. Mặt trước và hai bên được chạm trổ các loài hoa đặc trưng của bốn mùa làm cho bàn thờ như được phủ một chiếc khăn màu thạch sáng. Hai phía bên nhà thờ có bốn nhà thờ nhỏ được kiến trúc theo một phong cách riêng.
Hai ngày sau mua đủ hàng tôi liền nhờ thuê xe về, chính ông chủ nhà chúng tôi trọ tên Long, lại là ông trùm cửu vạn khu vực này, đã bố trí xe và người bốc xếp hàng cho chúng tôi giá cả rất phải chăng, ông còn lo cả thuế trong vòng địa phận Kim Sơn. Đến lúc này tôi lại có suy nghĩ khác về ông. Một ông trùm làm ăn có luật và rất tình người khi chuyến hàng đầu tiên lăn bánh về Hà Nội an toàn tôi thầm cám ơn số phận, cám ơn những người dân đạo Kim Sơn thật thà chất phác.

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018

VỢ TÔI



Thơ vui ngày 20-10
VỢ TÔI

Không tu cũng ít lên chùa
Vợ tôi suốt tháng tứ mùa ăn kiêng

Mâm cơm có mấy món riêng
Đậu, vừng, đỗ, lạc ưu tiên nàng dùng
Thịt gà thì nói đau lưng
Thịt lợn lắm mỡ, coi chừng mất eo
Rau lang, rau bí, dưa leo
Lưng cơm, đến bữa đánh vèo là xong 
Thể dục mỗi sáng mấy vòng
Chiều tà xe đạp, thong dong bạn bè
Báo đài, chịu khó lắng nghe
Giảm cân tăng lực, đường chè tránh ăn
Đã qua cái buổi nhọc nhằn
Phát phì càng đẹp lăn tăn làm gì
Văn nghệ son phấn mỗi khi 
Tôi nhìn duyên dáng, khác gì năm xưa. 
20-10-2018

TRẬN CUỐI


TRẬN CUỐI
Hồi ký
Ngày 15-4-1975
-Tiểu đoàn tôi nhiệm vụ giữ chân sư 18 của địch tại Hố Nai Biên Hòa, tôi trung đội trưởng trinh sát được điều sang làm đại đội phó đại đội 1 chốt giữ đồi phía tây, cách sân bay khoảng 5km.
Đứng trên đỉnh đồi về đêm trong làn gió mát, nhìn ánh điện sáng đủ màu lấp loáng rất đẹp bởi mấy năm ở rừng chúng tôi chưa bao giờ được chiêm ngưỡng. Mỗi lần máy bay lên xuống, gầm rít inh tai, đèn pha sáng rực một khoảng trời. 
Gần sáng đào và ngụy trang xong công sự, chưa ai kịp chợp mắt thì phát hiện, dưới chân đồi có rất nhiều lính VNCH lưng đeo ba lô tay nhăm nhăm súng đang tiến lên chốt. Lấy khẩu B40 trong tay cậu Toàn tôi lắp đạn nhằm vào toán lính xiết cò. Một tiếng nổ vang khói đen mù mịt, tai tôi ù đi. Không đầy phút sau, thấy tê dại bên chân ngã văng khẩu súng , máu chảy xuống ống quần, anh em vội đưa tôi vào công sự. Thì ra khi tôi bắn quả B40 trời vừa mới sáng sương mù còn đặc quánh khói chậm tan, địch phát hiện mục tiêu liền câu M79 tới và tôi đã bị mảnh đạn xuyên vào hông. 
Lúc này các đại đội khác cũng đồng loạt nổ súng. Địch 3 lần lên, ba lần bị đẩy lùi tới chiều tối chúng rút về bốt và cho pháo binh cùng máy bay ném bom hủy diệt trận địa. Phía ta bị thương và hy sinh nhiều nhưng vẫn quyết tâm giữ vững trận địa. Trung đoàn lệnh tiểu đoàn 2 lên chi viện đồng thời tổ chức chuyển thương binh liệt sĩ về phía sau
Tôi được mấy anh em bộ phận hậu cần quân y cõng và đưa xuống, dưới làn pháo 105 ly bắn loạn xạ. Tôi bảo với anh em:
-Mình bị thương chân vẫn bò được mọi người hãy tập trung lo cho những người nặng hơn
Đến nửa đêm thì hầu hết thương binh liệt sĩ đã được đưa xuống chân đồi và đi về trạm quân y tiền phương cách khoảng 5 km đường rừng, các liệt sĩ thì đưa về vị trí chôn cất nơi định trước, đã đánh dấu trên bản đồ để sau này dễ tìm.
Nằm trên võng, tôi thương anh em quá cứ ba người một võng thay phiên nhau, đêm rừng tối không nhìn thấy đường, Người đi đầu đèn pin bịt chặt ánh sáng chỉ nhỏ như con đom đóm soi đường mòn, người sau theo người trước , dốc đá gập ghềnh, bước chân xiêu vẹo, nhưng mọi người quyết không để thương binh đau thêm. Về đến đội phẫu, mọi thương binh được cấp cứu và sơ cứu, sáng ra lại tiếp tục chuyển về bệnh xá phía sau. 
Bệnh xá K32 của quân khu đóng ở sát bờ sông Đồng Nai. Từ đây đến trạm không biết bao nhiêu xa mà phải đi từ sáng tới chiều. Qua biết bao đèo suối, có những lúc qua cầu cầu độc mộc chỉ một cây gỗ, trên có dàn tay vịn rất nguy hiểm, tôi mệt quá, nằm trên võng ngủ li bì, mê man có lúc hét rất to các đồng đội đang khiêng phải dừng lại gọi, tôi bừng tỉnh mồ hôi vã ướt cả áo. Mọi người nghỉ chân, nhìn sang võng cạnh thấy có người phủ chăn kín mặt tôi liền hỏi: 
-Bạn bị thương vào đâu? không thấy trả lời .
Một lát sau có cậu lính quân y lên tiếng nói:
- Cậu ấy hy sinh rồi nhưng chúng tớ cố đưa về, vì cũng sắp đến trạm. ( Thường thì khiêng thương binh như thế này bộ phận quân y mang theo thuốc và dụng cụ cấp cứu, cùng cả cuốc xẻng nếu như giữa đường có sự cố, không cứu được thì tìm chỗ mai táng rồi vẽ sơ đồ mang về.)
5 giờ chiều tới bờ sông, bên kia là trạm xá, do tránh máy bay địch, tối hẳn mới có xuồng sang đón. anh chị em trong trạm ra tận nơi đưa thương binh vào hầm thắp đèn cấp cứu. Còn tôi được đưa vào lán trung thương (Nơi cho những người bị thương ở mức độ trung bình) Lúc này tôi cảm thấy đói mệt vô cùng, mở mắt nhìn rồi lại thiếp đi, bỗng nghe có tiếng gọi và một bàn tay mềm mại nhẹ nhàng lay lay:
-Đồng chí ơi dậy ăn cháo.
Ôi không biết là tỉnh hay mơ đây, một giọng nói dịu dàng của phụ nữ trong không gian tĩnh lặng không tiếng súng mà lâu lắm tôi mới được nghe. Rồi không biết vì mừng hay vì cảm động tự nhiên hai hàng nước mắt tôi chảy dài. Cô y tá mặc áo bà ba đen quấn khăn rằn tay bưng bát cháo.
-Anh cứ nằm yên để em bón cho. Tôi như đứa trẻ há miệng nhấp nháp hương vị thơm ngon của thìa cháo, tận hưởng sự ân cần như của người mẹ, người chị, người em mà đã lâu không gặp
Ăn xong cô y tá dặn:
-anh nghỉ đi ngày mai mổ để lấy đạn ra.
Giữa làn bom đạn tôi không sợ mà nói đến tiêm với mổ mà tôi lo và hồi hộp quá.
Trưa hôm sau tôi được bác sĩ dìu lên bàn mổ, nói là bàn mổ thực ra chỉ là cái chõng tre được trải ni nông và khử trùng. Nằm trên bàn người tôi run cầm cập, bác sỹ hỏi:
-Đồng chí rét hay sao, tôi trả lời vâng.
Anh gọi người mang chậu củi đang hồng than để dưới gầm bàn.
- Tôi trấn tĩnh nói: dạ ổn rồi ạ 
Kíp bác sỹ bắt tay làm việc họ cắm xung quanh vết thương 3 chiếc kim tiêm rất to và dùng xilanh thuốc tê bơm vào, một lát hỏi tôi:
- Còn đau không? tôi trả lời không.
Nằm úp sấp mặt, phần trên che chăn tôi nghe rõ tiếng dao kéo cắt thịt sồn sột và họ nhắc tôi thấy đau thì bảo. 30 phút sau thấy có người nói:
- Thôi khâu vào nếu mổ sâu đứt dây thần kinh tọa sẽ teo chân, để sau này ra Bắc mổ tiếp.
Tất cả đồng ý, đợi băng bó xong tôi ngoảnh lại hỏi? Một anh bác sỹ trả lời ổn rồi chỉ một tuần là lành thôi, nhưng tôi biết….
Bao ngày vào chiến dịch mệt mỏi căng thẳng, giờ không phải lo gì nữa tôi ngủ ly bì 2 ngày liền. đến giờ thay băng , tiêm thuốc mới tỉnh dậy.
Ngày thứ ba trở đi không ngủ được nữa, tôi tranh thủ viết nhật ký và mở đài theo dõi chiến sự. Tư Yên là cô y tá đêm hôm ấy hàng ngày vẫn thay băng và cơm nước cho lán tôi lúc rỗi việc nàng thường hỏi thăm chúng tôi quê ở tỉnh nào ngoài bắc, rồi cô tự giới thiệu: em quê ở Long An vùng sông nước.
Còn chúng tôi về đây nhiều đơn vị mỗi người mỗi tỉnh khác nhau, cậu Hải nằm phía trong lên tiếng trước: 
- Tôi ở Bắc Ninh quê hương Quan họ đây.
Tư Yên liền cất tiếng hát: “Ăn một miếng trầu, gặp đây ăn một miếng trầu\ không ăn cầm lấy…, không ăn cầm lấy cho nhau bằng lòng /miếng trầu là miếng trầu vàng” ôi một giọng quan họ pha chất nam bộ sao mượt mà đến thế rồi nàng kể:” ba mẹ em quê ở Bắc Ninh vào Long An từ năm 1954, em sinh tại đây nên giọng pha chút nam bộ. Ba mẹ em hát quan họ rất hay, nhưng do tục lệ liền anh, liền chị không được lấy nhau nên ba mẹ đã trốn nhà cùng đoàn người vào nam, để được sống bên nhau 
Sau mười ngày vết mổ đã lành nhưng chân bị tê teo do mảnh đạn nằm sát dây thần kinh tọa đi lại phải chống nạng. Lúc này đang chiến dịch lớn, thương binh về nhiều những trường hợp như tôi được chuyển về trạm ăn dưỡng quân khu chờ về đơn vị chiến đấu. Nhưng cũng thật bất ngờ lần bị thương thứ 2 này, cũng là trận chiến cuối cùng trong đời binh nghiệp của tôi.
Khảnh khắc khó quên 
39-4-1975 
Chiến dịch HCM đang vào thời kỳ quyết liệt, chiến thắng Xuân lộc thắng lợi, đây được coi là trận Điện Biên Phủ thứ 2 mở đường cho đại quân ta tiến về Sài gòn
Nằm trong lán tre của trạm nghỉ dưỡng T35, chúng tôi lúc bấy giờ đều là thương binh, nặng có nhẹ có, với chiếc Radio bên mình từng ngày liên tục theo dõi tin chiến thắng trên Đài phát thanh Giải phóng, 
Rồi những gì mong ước đã đến đúng 11h 30 giờ ngày 30-4-1975 một bản tin được phát ra Dương văn Minh đã đầu hàng, miền nam hoàn toàn giải phóng, chúng tôi, cả trạm như vỡ òa ra reo mừng, tay tôi cầm chiếc Radio rơi lúc nào không biết. Bài hát giải phóng miềm nam được cất lên, chẳng ai bảo ai họ hát say sưa như chưa từng được hát.
Đồng chí trưởng trạm đứng giữa lán hô to hôm nay không cần theo chế độ khẩu phần, sẽ mở kho để anh em ăn mừng chiến thắng
Chúng tôi vừa hát vừa khóc, khóc vì mừng, khóc vì tiếc nuối, giá không bị thương, giờ này đang cùng đồng đội tiến vào dinh Độc lập hoặc hòa trong không khí nhộn nhịp cờ hoa của người dân trên từng đường phố Sài Gòn. 
ĐTK

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2018

NHỮNG NGÀY Ở TRƯỜNG SƠN



Phần1
NHỮNG NGÀY Ở TRƯỜNG SƠN
Truyện ký
Trời mưa tầm tã con đường từ Cự Nẫm đến trạm 5 lầy lội, những vết bánh xe hằn sâu xuống đường như hai rãnh thông hào. Đoàn xe Zin khơ của Liên xô gồm 16 chiếc chở bộ đội ì ạch nghiêng ngả có đoạn lún sâu, cả trung đội chúng tôi lại xuống dô đẩy, xe trước móc kéo xe sau, như đưa pháo vào trận địa thời chống Pháp. Dốc lên xuống trơn trượt, hàng giờ mới nhích được khoảng cây số. Đây là chuyến xe cuối cùng ở địa phận miền Bắc trước khi vào cửa ngõ Trường Sơn. Trời tối đen như mực, le lói ánh sáng vàng úa của những chiếc đèn gầm, được che khuất bởi những cành lá ngụy trang. Nhìn mặt đường như cháo loãng đoàn trưởng hội ý nhanh cùng ban chỉ huy, phải mau chóng vượt qua nếu trời sáng sẽ là mục tiêu cho máy bay địch. Thế là mệnh lệnh phát ra: “Tất cả đơn vị xuống hành quân bộ”, đây đến trạm dừng quân, giáp biên giới Lào chỉ còn khoảng mươi cây số xuyên qua những cánh rừng già, đèo dốc cao dần 
“Tất cả bám sát, không hút thuốc tránh để lộ ánh sáng”. Đồng chí đại đội trưởng truyền lệnh xuống. Trong không gian lặng tĩnh chúng tôi mới cảm nhận được đêm rừng, mưa tạnh dần, màn đêm đen quánh, các miếng lân tinh được gài lên mũ hoặc sau ba lô để bám sát nhau. Rồi tiếng chim lợn ném vào không gian từng hồi eng éc …như thần chết gọi hồn nghe rợn cả tai, xen lẫn tiếng gió trên cao, hun hút từng cơn.
Những quả pháo sáng, sáng bừng lên từng chùm như xé toạc màn đêm, hết chùm này đến chùm khác, được thả xuống từ những chiếc L19, VO10 quần thảo trên đầu nghiêng ngó tìm con đường tiếp viện của ta.
Chúng tôi Từ Yên Tử -Quảng Ninh vào đến đây, tuy cả ngàn cây số nhưng có xe đưa đón, ngày nghỉ đêm đi tránh máy bay địch. Đến địa phương nào có cán bộ du kích địa phương đó ra đón, rồi đưa vào nhà dân nghỉ lại. Miền Trung cũng như các tỉnh ngoài Bắc đều nhộn nhịp khí thế chống mỹ. “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Từ Hà Tĩnh trở vào đến Vĩnh Linh là nơi trọng điểm đánh phá của máy bay địch vào đường tiếp tế của ta. Các làng làng bản chủ yếu là các ông bà già và trẻ em, nam thanh niên thì nhập ngũ, nữ TNXP vừa trực chiến vừa san lấp hố bom thông đường cho các chuyến xe qua.
Gần 3 giờ sáng, vượt qua dốc núi cao đi xuống thung lũng là tới trạm trú quân, mấy cô giao liên chờ sẵn đưa chúng tôi vào “bãi khách”. (Bãi khách là một khu rừng nơi bộ đội đóng quân nấu cơm sinh hoạt mắc võng ngủ qua đêm để mai đi tiếp) , nên đã có sắn cả bếp Hoàng Cầm âm trong mặt đất cùng nhiều vị trí mắc tăng võng, được ngụy trang kín đáo.
Lần đầu tiên bước chân vào Trường Sơn, mưa trơn lầy lội, dốc cao mang vác nặng ai cũng mệt nhoài cảm giác không thể bước nổi. Mắc võng xong để hai chân bẩn đầy bùn thòng xuống đất và tất cả chìm vào trong giấc ngủ, những con vắt rừng thấy hơi người liền đội lá vươn lên ngoe nguẩy chui cả vào trong giày tất mà hút máu, no tròn như những quả sim chín.
Hôm sau chúng tôi được binh trạm phổ biến mọi nội quy cũng như những kinh nghiệm khi hành quân, nhất là tránh lộ khói lửa, ngụy trang kín đáo hầm hố công sự, bởi những chiếc máy bay C130 có cả hệ thống tia hồng ngoại dùng để phát hiện mục tiêu không phát sáng trong đêm. Đồng thời Không gây tiếng động lớn để biệt kích phát hiện
Nghỉ một ngày ổn định tổ chức, bổ sung gạo để đủ ăn, đến kho sau cấp tiếp. Mỗi người 1 bao tượng gạo chúng tôi còn mang thêm súng AK và cơ số 300 viên đạn, hoặc một khẩu B40 với 3 viên đạn cùng quân tư trang, thuốc men, đồ ăn mỗi người lính được cấp một ống cóng ruốc thịt, trong đó pha trộn thuốc chống sốt rét, tê phù... một kilôgam muối để dùng cho toàn bộ chặng đường, cùng bát đũa, ăng gô, xoong nồi vv…
Đường Trường Sơn có hai đường cặp hai bên, là Đông Trường Sơn và Tây Trường sơn. Đông Trường Sơn phần lớn dành cho bộ đội vào B4, B5. Còn Tây Trường Sơn dành cho bộ đội vào B2, B3 và hai đường luôn có nhánh thông sang nhau. Đoàn chúng tôi vào B2 nên đi bên Tây Trường Sơn. Khi ngang qua những đoạn đường dành cho cơ giới, những cô gái thanh niên đang san đường khăn choàng kín mặt chỉ còn lộ hai con mắt rất trong và đẹp tôi chợt nhớ lời bài hát “ Người con gái sông La, hai mắt trong tựa ngọc” với tiếng cười khúc khích rồi một tiếng hát xứ Nghệ vang lên “ Từ bên em đưa sang bên nơi anh/ Những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến” ôi hay và xúc động quá. Một cậu lính ngẫu hứng hát tiếp: “ Đường ra trận mùa này đẹp lắm,\ Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây” 
Và cuộc hành quân bắt đầu. Với khẩu hiệu: "đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” cả đơn vị được giao liên dẫn đường vượt sang tây Trường Sơn thuộc đất Lào. Trời bắt đầu khô ráo và thời tiết se lạnh, những khu rừng già như một mái nhà che kín không nhìn thấy mặt trời, chỉ còn những chấm nắng nhỏ nhoi xuyên qua tán lá rừng nhảy nhót. Tôi chợt nhớ tới lời thơ của nhà thơ Phạm Tiến Duật: Một dãy núi mà hai màu mây/ Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác/
Bên đông Trường Sơn lúc này do những đám mây mang hơi nước từ biển vào gặp dãy trường Sơn đổ xuống thành mưa. Nhưng sang Tây Trường sơn thì ngược lại. đứng trên đỉnh núi cao Trường Sơn ngắm nhìn xung quanh như một biển mây trắng xóa lác đác có những ngọn núi xuyên lên. Máu thi sỹ trong tôi trỗi dậy với dòng nhật ký: Chân đạp đất, tay vờn mây/ Núi chồng lên núi, rừng cây xanh mờ/ Ba lô, gậy trúc lên thơ/ Trường Sơn đẹp lắm, ngẩn ngơ mắt nhìn.
Trên dốc núi cheo leo là những khu rừng già với những cây gỗ phải ba bốn người giang tay mà không hết chu vi, có lẽ hàng ngàn năm tuổi. rồi những dòng suối trong ngần mát lạnh chảy từ trên cao xuống mà quanh năm không hết nước, cá tôm nhiều vô kể. Thiên nhiên thật tuyệt vời. Cảnh thì đẹp vậy nhưng cuộc hành quân chúng tôi vô cùng gian khổ, những ngày đầu đi bộ, đôi chân mỏi nhừ, hai vai sưng tấy vì mang nặng. Đa số chiến sĩ mới mười tám đôi mươi cân nặng trung bình mới có 45 cân người gầy mà mang trên mình bằng một nửa trọng lượng cơ thể, nhiều anh em gần như không đi nổi, ăn uống thiếu thốn lúc nào cũng đói. Dọc theo tây Trường Sơn chúng tôi đi qua không biết bao núi cao sông suối, cả các bản làng của dân Lào. Đi cũng quen dần, quân tư trang cái gì không cần bỏ bớt để giảm trọng lượng trên lưng
Thỉnh thoảng ven đường gặp những người dân lào, đàn ông da móc mật tóc hơi quăn chỉ mỗi cái khố, đeo bên mình con dao quắm, đàn bà thân mặc váy thổ cẩm rách với chiếc khăn bạc màu che ngực mang gùi trên lưng, nhưng ai cũng có một cái điếu rất to , nõ nhét thuốc to như cái bát con với cục than hồng hít liên tục cả khi nói chuyện với người khác. Họ bày các thứ nào là mớ rau, túm củ mài, vài bắp ngô ra lề đường mòn đổi tư trang và muối của bộ đội Việt Nam. Còn bộ đội ta có thêm cái ăn mà mang vác lại nhẹ hơn. Đầu tiên là mũ cối, rồi chăn màn, thậm chí quần áo dài đổi bớt, hai người chỉ cần ba bộ thay nhau. 
Cứ 5 ngày nghỉ một ngày hoặc 6 ngày nghỉ một ngày tùy theo vị trí kho gạo của binh trạm để bổ sung lương thực. Thời gian trôi dần đi, chúng tôi không còn khái niệm ngày tháng, tuần, thứ mà chỉ biết trăng khuyết lại tròn, tròn xong lại khuyết, phần lớn là hành quân ban ngày nhưng cũng có nơi do rừng thưa trống trải nhiều thì phải đi đêm.
Địch không ngăn chăn được bước chân của người chiến sĩ giải phóng, chúng dùng máy bay thả truyền đơn, món đòn tâm lý chiến hòng lung lạc tinh thần của bộ đội ta. Bài thơ “lá thư gửi mẹ” nằm trắng đường Trường Sơn ai cũng thuộc lòng, mọi người thu lượm làm giấy vệ sinh thay cho lá rừng. Lính ta không những không nản lòng mà còn tự hào soi mình trong thơ để "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Mà lòng phơi phới dậy tương lai".
Qua biết bao đèo dốc và núi cao, dọc theo tỉnh Savannakhet. Nhưng kỷ niệm nhất với tôi là cao nguyên Poloven thuộc tỉnh Salavan lúc này sức quân đã giảm, sốt rét rừng bắt đầu hành hạ, phần lớn những người to béo hơn chút là bị trước, chúng tôi phải phân chia tư trang để mang giúp cho nhau, có người sốt 40-41 độ vẫn chống gậy hành quân theo cùng đơn vị. Sốt rét là căn bệnh do muỗi rừng cùng các côn trùng khác trong rừng gây ra, khi bộ đội ta ăn uống thiếu thốn sức kiệt nên dễ bị nhiễm. Khi mắc bệnh người tự nhiên thấy đói và mệt, rồi rét từ trong ruột rét ra, bao nhiêu chăn đắp mà vẫn run cầm cập, sau cơn sốt là nóng, nóng toát mồ hôi, miệng không muốn ăn chỉ khát nước. Nếu nặng sẽ chuyển sang ác tính, hoặc bị tâm thần suốt đời, những người vượt qua được thì da dẻ xanh tái do thiếu máu, sức khỏe suy giảm dẫn đến kiệt sức. Ở ngoài bắc chúng tôi được trang bị thuốc chống, chủ yếu là Chloroquin (Nivaquine), vài trăm viên B1và 1 hộp Polyvitamin để nâng thể lực. Mới đi được hơn 2 tháng quân số đơn vị giảm dần vì phải gửi vào các trạm xá đường dây để điều trị.
”Nhớ một lần khi chúng tôi vượt qua sườn núi đá cheo leo, cách đường mòn gần chục mét, thấy một cái võng giăng dưới một vòm cây, hình như có người đang ngủ ở trong đó. Có lẽ “dân tụt tạt”. Nghĩ vậy nhưng chúng tôi lần tới xem sao. “Rõ khỉ, ngủ gì mà say thế” - tôi nghĩ. Nhưng khi mở võng ra, chúng tôi không nói được lời nào. Người chiến sĩ ấy đã vĩnh biệt đồng đội chẳng biết tự bao giờ, có lẽ vì một cơn sốt ác tính. Da mặt đen sạm, đôi mắt nhắm không nói lên được điều gì nhưng những người đang sống thì rất hiểu và phải hiểu.”
Chúng tôi tạm nghỉ đào huyệt, lấy tăng võng khâm niệm cho bạn, vĩnh biệt bạn mà không có nén nhang chỉ vài bông hoa trắng giữa đại ngàn Trường Sơn.
Tôi lúc này trọng lượng cơ thể không chắc còn 40 kg, nhưng vẫn mang vác đủ cơ chế. Lúc cuối ngày, bắt đầu không còn đội ngũ, mọi người rải rác cách xa nhau vì quá mệt. Cao nguyên dốc không cao, thoai thoải nhưng rất hiếm nước, mỗi người một bi đông suốt ngày không đủ. Nghe tiếng thông reo vi vút mọi người tự lừa dối mình đấy là tiếng suối chảy để cố gắng hành quân. Tiểu đội tôi có cậu Doanh bị sốt không đi nổi tụt lại phía sau, tôi phải ở lại dìu và phải đeo hai ba lô cho mình và cho bạn, cái đằng trước, cái đằng sau, chắc phải hơn 30 kg lại còn súng nữa chứ. Mệt quá tôi giơ súng lên trời bắn 3 phát chỉ thiên để báo đơn vị cho người quay lại đón. Chờ mãi không thấy, tôi động viên bạn, kéo lê từng bước rồi nửa đêm cũng về tới trạm. 
Hai hôm sau cũng trên cao nguyên tôi bị lên cái nhọt trên đầu gối chân bên phải, tuy nhỏ nhưng rất đau, nổi hạch đi lại rất khó. Cậu Đăng y tá đại đội xem xong bảo: anh để em nặn ra mai là khỏi thôi”. Ừ chẳng còn cách nào khác cũng hy vọng là vậy. Nào ngờ đây là chiếc nhọt đầu đinh, nhức cả đêm không ngủ được, sáng ra thấy đỏ ửng, sưng to như bắp chuối. Đơn vị đành để tôi ở lại, cũng may đây có trạm quân y. Thế là từ đây tôi chia tay đơn vị, chia tay đồng đội.
Điều trị hơn một tuần thì chân đã đi lại được và tôi tiếp tục lên đường, theo đơn vị thu dung bởi đơn vị đã đi quá xa rồi. Lại ngày đi đêm nghỉ vượt biết bao đèo dốc đến trạm 73 thì gặp Đỗ Thọ anh cũng bị sốt rét nằm lại hai người mừng mừng, tủi tủi gặp nhau xong tôi lại chia tay đi tiếp. đến trạm 76 tôi lại gặp Viết quê thị xã Hải Dương là lính cùng tiểu đội, người xanh xao gầy rộc cao lêu khêu. Nhớ ngày còn học trung cấp cùng lớp, Viết trắng trẻo điển trai, chữ đẹp mà còn hát hay chứ làm bao bạn gái xiêu lòng. Thế là hai chúng tôi sát nhập đoàn thu dung cùng đi. 
Tết năm 1971 đêm giao thừa nằm trong bãi khách chúng tôi được binh trạm phát cho mỗi người 2 điếu thuốc lá Tam Đảo, 5 chiếc kẹo Hải Châu, cùng hộp thịt không biết từ bao giờ, ngoài vỏ không còn nhãn mác đã loang màu han rỉ, nhưng không sao lâu lắm rồi chúng tôi chưa biết đến mùi thịt. . Khu bên cạnh là chỗ ở của đoàn thương binh ra Bắc đang chụm đầu bên cái đài bán dẫn mang từ chiến trường ra chờ nghe Bác Tôn chúc tết. Còn chúng tôi đang trên đường vào, biết bao gian nan và ác liệt phía trước. Và đây cũng là cái tết đầu tiên xa nhà, buồn phát khóc.Chắc giờ này ở quê bố mẹ, các em đang rộn ràng đón tết, nhà nhà bập bùng ánh lửa bên nồi bánh chưng, những dây pháo đỏ như son đang buộc sẵn chờ giây phút thiêng liêng của năm mới, ôi sao mà nhớ quá chừng. 
Kéo ba lô tôi lấy giấy bút viết mây câu thơ cũng là thổ lộ lòng mình: “Tết này con ở chiến trường xa/ Nhớ mẹ nhớ cha, lại nhớ nhà/ Nhắm mắt nằm mơ xuân vui quá/ Trên tăng dưới võng tưởng ngủ nhà.”. Tôi gọi cậu Viết dậy và đọc thơ cho bạn nghe. Viết lặng người một lát rồi nói: “bạn cho mình mấy câu thơ để mình viết thư sang nhờ đoàn thương binh gửi về quê” Bài thơ thật cảm động bởi tâm tư ai cũng vậy chẳng qua không viết được ra thơ mà thôi.( Câu thơ này sau 30 năm gặp nhau nhân dịp họp đồng ngủ tiểu đoàn ở thị xã Hải Dương, Viết gặp tôi đã đọc lại bài thơ rồi chúng tôi ôm nhau khóc như những đứa trẻ).
Nghỉ tết 2 ngày tôi được bổ sung vào đoàn Nam Hà và đi tiếp, còn Viết bị sốt rét mệt quá lại đưa vào quân y trạm. Giờ tôi lại có tiểu đội, trung đội quản lý và những người bạn mới. Xuống đến Nam Lào đúng dịp cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ triển khai, hòng triệt phá con đường vận chuyển quân lương vũ khí của ta vào chiến trường. Địch tăng cường trinh sát, ta gấp rút đưa tăng và pháo vào các vị trí đánh chặn. 
Nơi đây rừng núi hiểm trở hơn, hành quân càng gian khổ hơn bởi quân ta ngày càng đuối sức. Gạo không đủ ăn, mọi người lúc nào cũng thấy đói. Một hôm đi qua đường lớn có chiếc xe chở gạo bị bom đánh lật, gạo thấm đầy xăng chúng tôi hò nhau lấy về rang lên và ngâm nước, nấu ăn thêm vẫn ngon lành
Ngày nghỉ anh em lần vào rừng tìm rau tàu bay, càng cua, xuống suối tìm cây môn thục (giống như cây khoai môn ngoài Bắc) để cải thiện cho mát ruột. Một hôm có cậu lính ta ra suối thấy vụng nước sâu nhiều cá liền rút quả lựu đạn ném xuống sau tiếng nổ ùng thì cá nổi trắng mặt nước, đơn vị ào ra vớt mang về hôm đó chúng tôi được bữa cải thiện tuyệt vời. Nhưng cậu lính đó sau bị gọi lên binh trạm cảnh cáo vì tội gây tiếng động trong căn cứ.
Nhiều lúc trong rừng thẳm chúng tôi cũng không nhớ địa danh thuộc tỉnh nào. Cứ ngày đi đêm nghỉ. Rồi một hôm trạm giao liên phổ biến ngày mai vượt núi rất cao và hiểm trở mọi người lo chuẩn bị cơm nắm, nước uống đầy đủ tăng hơn mọi ngày. Đã qua hàng trăm núi cao đèo dốc, nhưng khi đến chân núi này quả thật rợn tóc gáy. Đường lên thẳng đứng đá tai mèo, chúng tôi bám vào những sợi dây song mà bộ đội binh trạm đã làm trước để leo lên . Chân người trên đạp đầu người dưới, đi không leo còn khó huống chi lại còn mang bao thứ trên người. thật khâm phục anh em bộ phận cối và 12,8 người đẩy, người kéo những nòng pháo tròn trơn tuột nặng gần tạ, hay bàn đế pháo tròn to gần bằng cái nia, cùng mọi tư trang đạn dược, thật kinh khủng chỉ cần chệch chân, tuột tay là rơi ngay xuống vực. Nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh không được chùn bước, tất cả vì miền Nam.
Thế rồi cuối giờ chiều chúng tôi đã vượt lên đỉnh dốc, mọi người năm la liệt thở, rồi giở cơm ra ăn. Nghỉ 1 giờ bắt đầu xuống dốc, lên khó khăn đã vậy xuống cũng chẳng kém gì sơ xuất là rơi mất tích, mãi gần tối thì chúng tôi cũng xuống đến nơi, bãi nghỉ ngay tại chân dốc. Hỏi giao liên mới biết đây gọi là: “dốc thang trời”
Càng đi xuống Nam Lào rừng đại ngàn nguyên sinh càng nhiều, âm u ngày cũng như đêm, muông thú nhiều, đêm đêm nghe tiếng nai kêu vượn hót rất buồn. Tiếng chim “bắt cô trói cột” chúng tôi gọi là “ Khó khăn khắc phục” như giục dã. Mùi lá nếp tỏa hương thơm lừng mà nhớ quê vô cùng. Tôi lại ngẫu hứng làm thơ: "Gió Trường Sơn đêm lại lạnh thêm\ Mưa ướt tăng che , gió luồn qua võng\ Nhưng niềm tin ngày mai đại thắng\ Về bên em trong giấc ngủ chập chờn…….."
Đơn vị lại phổ biến ngày mai ta còn phải vượt con dốc cao hơn và rất dài. Vậy mọi người chuẩn bị nước uống và có 3 nắm cơm. Lúc này đơn vị chỉ còn nửa quân số nên việc quản lý cũng gọn hơn. Cứ ngỡ dốc thang trời là cao nhất rồi, nhưng ngọn núi này còn cao hơn, được cái là không cheo leo, nhưng đường dài rất mệt. Đi một giờ nghỉ 10 phút, mọi người không kịp tháo ba lô ngồi xuống ngủ ngay, gần tối thì lên tới đỉnh dốc. Đứng trên cao nhìn xuống như một biển mây trắng bồng bềnh, không khí loãng, độ sôi chỉ khoảng 70 độ nên không nấu được cơm, phải ăn cơm nắm. Vậy đã hết 2 nắm cơm còn nắm nữa dành sáng mai ăn lấy sức xuống dốc, vì vậy mọi người đặt tên dốc này là: “dốc ba nắm”
Một hôm do bãi trống nhiều chúng tôi hành quân đêm vào đến bìa rừng già đóng quân nghỉ mai hành quân tiếp mọi người tranh thủ mắc võng và phân công nhau gần sáng dậy nấu cơm. Bếp của tiểu đội tôi không ngờ được đặt dướt tổ ong khoái to như cái dậm mà không biết. Gần sáng nhóm bếp, khói lên đàn ong bay ra toán loạn, lúc này trời đã mờ sáng. Đồng chí trung đội trưởng có kinh nghiệm nói như ra lệnh “không ai được đập chết ong mặc kệ nó bám vào người vào mặt”. Một cậu do ong bám vào cổ, buồn quá không chịu nổi vỗ chết một con, thế là đàn ong nhào vào đốt. Tôi hoảng quá chạy ra, càng chạy ong càng đuổi, mọi người thu xếp tư trang khoác ni nông từ từ ra khỏi vùng ong. Còn tôi bị chịu trận nhiều nhất nọc ong cắm chi chít trên mặt và cổ buốt vô cùng, sau một giờ hành quân mắt sung húp không nhìn thấy đường và sốt cao, cũng may trạm nghỉ chân cũng còn gần và hôm sau chúng tôi được nghỉ một ngày. Đúng là độc trị độc không biết có phải vậy không mà cuộc đời chinh chiến 6 năm ở rừng tôi không hề bị sốt rét.
Qua trạm này chúng tôi hành quân đỡ mệt hơn rừng dốc thoai thoải và thưa dần toàn những cây Sang lẻ thân trắng mốc như da cây ổi thẳng đứng và rất to, đặc biệt gỗ tươi hong qua là đun được. xen lẫn rừng Khộp ( Cây dầu chai) nhưng rất hiếm nước. Lúc này là mùa khô, các suối cạn ròng, chỉ còn ít vũng nước đầy những con nòng nọc, quăng quăng nhưng vẫn phải gạn về nấu cơm, nấu nước uống, cả tuần chẳng ai có khái niệm tắm giặt.
Vượt qua sông Nậm Bạc đi về phía tây nam đến dần biên giới ba nước Việt Nam- Lào –Campuchia ( Tại ngã ba Đông Dương này có hai đường hướng Đông Nam vào B3. Còn Tây Nam đi sâu trong đất Miên rồi vào B2 miền Đông Nam Bộ theo hướng Thủ Dầu Một tức là Bình Dương bây giờ ). chúng tôi từ giã Trường sơn, đi sâu vào đất Miên. 
Hết phần1