Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

CHỒNG CHÉO


Đường phố mới rải nhựa xong
Vừa phẳng vừa mịn xe vòng nhẹ bon
Thời gian mấy tháng chưa mòn

Tiêu úng thay cống, vuông tròn cắt ra
Xong rồi vá lại như “hoa”
Cáp quang hạ thổ gần xa đẹp nhìn
Lại ông điện lực ưu tiên
Hai bên xẻ rãnh ống liền đặt dây
Hanh khô đất bụi phủ đầy
Trong nhà, ngoài quán ngọn cây mịt mờ
Mặt đường san chắp gập gờ
Còn giao thông, lại bao giờ sửa đây.
Chéo chồng dự án trên mây
Tiền dân chịu mãi cảnh này thế sao.
10-2018

MẤT NGỦ


Cải tiến, cải lùi mãi chẳng thôi
Chôn dây, đường điện mấy đêm rồi
Máy cưa, máy đục âm màng nhĩ
Cẩu xúc, khoan, đầm điếc cả tai
Nhắm mắt giật mình không ngủ được
Mơ màng váng óc thuốc vài mồi
Ước gì nhanh chóng xong công việc
Cho phố yên bình, khổ quá thôi.
30-10-2018

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2018

CHUYẾN HÀNG NHỚ MÃI

CHUYẾN HÀNG NHỚ MÃI
Truyện ngắn

Ngồi trên xe khách tuyến Hà Nội -Kim Sơn Ninh Bình, tôi dấu túi tiền giữa đống bạt, ngồi đè lên mà lòng vẫn thấp thỏm, nhìn ai cũng như kẻ trộm.
Tôi và H cùng là bộ đội từ chiến trường ra, đã trải qua bao trận đánh không sao, mà hôm nay lại hồi hộp lạ thường. Số tiền vay này mà mất thì bao giờ mới trả nổi, rồi còn cuộc sống tiếp theo sẽ ra sao cứ nghĩ đến là toát mồ hôi.
Xe rời bến cóc lúc 12 giờ trưa tại Hà Nội, 5 giờ chiều tới Kim Sơn Ninh Bình an toàn. Hai chúng tôi vác bó bạt xuống xe, vào chợ lúc này đã vãn người, các hàng quán nghỉ cả, chúng tôi lại lững thững ra quán ăn ven đường
Thôi gọi chút gì qua quéo cho xong bữa. tôi nói.
- H thì trầm ngâm ít nói, tôi biết anh cũng đang lo lắng trăn trở, tối nay ngủ đâu cho an toàn và thu mua hàng hóa ra sao.
Đây rồi có nhà hàng cơm bụi. Chúng tôi rẽ vào, chị chủ quán đon đả mời, rồi hỏi:
-Trông hai chú như ở nơi xa đến đây lần đầu
-Tôi nói: dạ chúng tôi từ Hải Dương vào đón người nhà đang đóng chiếu ở chợ này
Vậy à họ trọ nhà ai và lấy hàng của chủ nào các chú có biết không? Chị chủ quán hỏi
-Cũng nghe nói nhà gần chợ thôi chứ chưa biết chính xác ạ
-Các chú cứ bình tĩnh, cơm xong tôi chỉ nhà cho, các chú vào hỏi khắc biết
Đúng là ăn mày gặp chiếu manh, chúng tôi mừng quá ăn xong vội chia tay chị chủ quán. Theo lời chỉ dẫn tôi lần đến một ngôi nhà sát chợ. Nói là nhà chứ nó là một cái lán rộng lợp lá cọ, vách là phên cói đan tềnh toàng trên bãi cỏ rộng lớn. Nhà đang thắp đèn sáng , nghe tiếng gọi chủ nhà là người đàn bà hơn chúng tôi khoảng chục tuổi trông vẻ phúc hậu hiền lành tiếng nói rất dễ nghe
-Các chú hỏi ai ạ
-Tôi vội trả lời: chúng tôi từ Hải Dương vào đóng hàng
Chưa kịp hỏi bà đon đả: “Quê chú có ai đã vào đây chưa”
-Dạ có mấy người tôi nói tên, nhưng không biết họ lấy hàng ở đâu
-Bà cười: “ồ thế là các chú gặp may rồi họ lấy hàng ở đây, mới về hôm qua”
-Các chú vào uống nước, tôi tìm chỗ nghỉ cho, sáng mai ra đây cần hàng gì chúng tôi cung cấp đầy đủ
-Bà tự giới thiệu tên là Đoàn nhà ở cách đây 2km. Lán này là nơi con gái con rể thuê để làm chiếu . Vợ chồng nó tên là Nhung –Vinh
Nói chuyện một lát chúng tôi theo bà vào trong xóm, đến cổng một nhà, bà vào trước một lát sau có người đàn ông ra đón vào. Trông ông ta nhỏ người đen chắc như người vùng biển, khuôn mặt khắc khổ có vẻ như dân anh chị, ông ta hỏi các anh vào đóng chiếu hả? tôi nói vâng! rồi ông dẫn vào phòng trong chỉ chỗ nằm và nói: “ các chú mệt thì đi nghỉ hoặc muốn xem TV thì ra ngoài này”.
Tôi nói: chúng em đi nghỉ ạ
Ông nói: “Tiền hàng đâu tôi cất vào tủ cho, sáng mai đi chợ hãy lấy”. Thấy tôi có vẻ ngần ngừ ông ta cười.
Thôi thì đã vào đây rồi mặc cho số phận, tôi lấy gói tiền đưa cho ông cất vào tủ, nghe tiếng khóa lách cách, rồi ông đưa cho tôi chiếc chìa. Tôi nghỉ cũng chẳng cần thiết tủ chắc cũng vài ba chiếc chìa mình có cầm một cái thì cũng chẳng ích gì. Người mệt lại lo lắng, nằm mãi không ngủ được suy nghĩ miên man.
Chả là làm ăn dạo này ngày một khó khăn, thóc gạo bão hòa. Chính sách ngăn sông cấm chợ đã được xóa bỏ nên việc làm hàng xáo và mang gạo lên tỉnh bán lờ lãi chẳng được là bao. Ruộng đồng mới thực hiện khoán quản. Quê tôi đông dân, đất hẹp mỗi khẩu không nổi sào ruộng. Nhà nhà tận dụng mọi lao động và thời gian 2 mùa cấy mùa gặt chỉ diễn ra khoảng một háng là xong còn 5 tháng nông nhàn, ăn thì không mấy cái tiêu mới là lớn, con cái học hành, giỗ tết, đám ma đám cưới cái gì cũng bằng tiền. Ngoài nông nghiệp mọi người phải bôn ba khắp nơi làm thuê và buôn bán. Không biết từ bao giờ làng tôi phát triển nghề bán chiếu rong, lúc đầu chỉ vài người ra phố Hàng Chiếu -Hà nội lấy lại hàng của mấy cửa hàng, rồi vác đi bán dạo phố, tối về ngủ trọ ở bãi Phúc Tân bên bờ sông Hồng.
Lúc đầu hàng bán rất chạy vác chiếu chỉ đi một hai con phố đã hết, chiều nghỉ ngơi sáng mai lại đi. Do kiếm được nên mẹ rủ con, anh rủ em, vợ rủ chồng tất cả thu xếp công việc nhà nông cùng ra thành phố mới có vài ba năm làng tôi khởi sắc hẳn lên. Dăm bữa nửa tháng về có khoản tiền mua sắm đồ dùng cho con ăn học. và xây dựng nhà cửa.
Càng ngày việc bán hàng càng phát triển lên, theo yêu cầu thị trường, không vác bộ nữa dùng xe đạp, chở nhiều và đi xa hơn.
Làng xóm bây giờ chỉ đông người vào thời vụ nhưng khi nông nhàn còn toàn người già và trẻ em ở nhà,.
Theo nghề chung của làng, là thương binh đã từng lăn lộn làm kinh tế, không quản ngại vất vả sang hèn, tôi cũng ra đi mưu sinh nơi thành phố. Với chiếc xe đạp đi khắp nơi mỗi ngày tới 50-60 cây số rong ruổi trên đường. Cứ mỗi đợt đi nửa tháng nghỉ về quê 3 ngày rồi lại đi tiếp. Thị trường khó khăn dần có hôm bán được, có hôm đi cả ngày rạc cả người mà chẳng có người mua, sáng trưa gặp gì ăn nấy, tối về cơm bụi giá rẻ miễn là lo bụng là được.
Hàng hóa giá gốc ngày một nâng cao vì nông thôn người ra ngày càng đông nên chủ hàng tăng giá, nhà trọ cũng khó khăn hơn, đợt đi tiết kiệm hết mức nhưng khi về chẳng còn được là bao. Cái khó làm rõ cái khôn ở làng nhiều người vào tận nơi sản xuất mua về bán nhưng cũng chẳng được bao nhiêu vì tiền thuế, tiền cửu vạn rồi cước xe.
- Tôi thì nghĩ: nếu vào tận Ninh Bình đóng hàng tận gốc. thì phải đóng nhiều giá thành mới hạ, đồng thời tìm nhà trọ riêng rủ anh em, bạn bè đến ở rồi cùng bán. Hàng giao rẻ hơn bên phố Hàng Chiếu, người bán hàng có chỗ ở không mất tiền việc này chắc ổn.
Thế là tôi rủ một anh bạn H cùng xóm chung làm, kế hoạch bàn bạc kỹ nhưng cái khó là không có vốn, nhưng quyết tâm làm, chúng tôi vay lãi tháng của cậu Sở bán thịt lợn cùng quê 5 triệu đồng( Thời điểm năm 1995 giá trị rất lớn). Rồi tìm ngày đẹp lên đường vào Kim Sơn đóng hàng .
Đèn bật sáng và có tiếng động mở cửa chắc gia đình đã dậy ra chợ, thấy tôi dậy ông chủ liền hỏi đêm qua có ngủ được không?
Tôi trả lời: “ lạ nhà trăn trở mãi gần sáng cũng ngủ được”
Ông ta cười như hiểu được lòng tôi rồi bảo: “ Chú mở tủ lấy tiền rồi cứ vất chìa khóa trên bàn cũng được, tôi đi làm đây.
Tôi gọi H dậy đánh răng rửa mặt xong cũng ra chợ luôn , trời lúc này chưa sáng nhưng đã tấp nập, những xe xích lô xếp đầy chiếu ra vào cổng chợ, xen bên là những hàng quà bánh ăn sáng còn thắp đèn. Tôi đi qua một lượt thấy hàng hóa nhiều và rẻ, rồi vào nhà Nhung. Giống mẹ Nhung nói năng rất nhẹ nhàng: “các anh sáng ra chợ mua hàng rồi đến trưa về đây ăn cơm với em thiếu gì, cần bao nhiêu chúng em cung cấp, giá có giá làng các anh khỏi lo”. Chồng Nhung tên là Vinh chắc cũng trạc tuổi như nhau khoảng ngoài 30, cao ráo đẹp trai vẻ hiền lành, gặp chúng tôi chỉ cười ít nói. Cậu ta đang xếp lò hấp chiếu ( bởi vì chiếu khi in hoa xong phải hấp chín bằng hơi nước thì màu mới tươi và không phai)
Lần đầu tiên về Kim Sơn tôi mới biết 80% dân nơi đây theo Đạo, có nhà thờ đá cổ kính và to nhất nước, người dân rất thật thà tốt bụng.
Sau này vào nhiều tôi mới có dịp tham quan chiêm ngưỡng
Nhà thờ đá không những đẹp mà còn là một kỳ quan rất lạ, vì những kèo, cột rồi từng con song cửa đến mái nhà toàn là đá. Bác hướng dẫn viên kiêm trông coi nhà thờ kể rằng: “Ngày xưa nhà thờ được một vị quan thương thư trong triều Nguyễn đã cung tiến và đứng lên xây dựng”. Ngày ấy biển còn sát nơi đây, gỗ đá từ Thanh Hóa chuyển vào theo đường biển rồi theo dòng sông thẳng tắp vào đây. Những con sông này là do cụ Nguyễn Công Trứ về đây khai hoang lấn biển và hướng dẫn dân đào, vừa lấy nước ngọt cấy trồng, vừa làm đường giao thông.
Nhà thờ đá xây dựng năm 1883, ngày ấy không có xe cẩu toàn dùng sức người, xúc cát tôn cao như núi rồi kéo cột đá xà đá vào dựng lắp xong lại xúc cát ra. Phía trong được chạm nhiều bức phù điêu đẹp, đặc biệt là bức chạm tứ quý: tùng, mai, cúc, trúc, tượng trưng cho thời tiết và vẻ đẹp riêng của bốn mùa trong một năm. Ðường nét khắc họa những con vật như sư tử, rồng phượng sống động đến lạ thường
Nhà thờ chính được xây dựng từ năm 1891 với tên chính thức là Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi, nay là nhà thờ chính tòa của vị Giám mục Phát Diệm. Nhà thờ lớn dài 74m, rộng 21m, cao 15m, có bốn mái và có năm lối vào dưới các vòm đá được chạm trổ. Trong nhà thờ có 6 hàng cột gỗ lim (48 cột) nguyên khối, hai hàng cột giữa cao tới 11m, chu vi 2,35m, mỗi cột nặng khoảng 10 tấn. Gian thượng của thánh đường có một bàn thờ lớn làm bằng một phiến đá nguyên khối dài 3m, rộng 0,9m, cao 0,8m, nặng khoảng 20 tấn. Mặt trước và hai bên được chạm trổ các loài hoa đặc trưng của bốn mùa làm cho bàn thờ như được phủ một chiếc khăn màu thạch sáng. Hai phía bên nhà thờ có bốn nhà thờ nhỏ được kiến trúc theo một phong cách riêng.
Hai ngày sau mua đủ hàng tôi liền nhờ thuê xe về, chính ông chủ nhà chúng tôi trọ tên Long, lại là ông trùm cửu vạn khu vực này, đã bố trí xe và người bốc xếp hàng cho chúng tôi giá cả rất phải chăng, ông còn lo cả thuế trong vòng địa phận Kim Sơn. Đến lúc này tôi lại có suy nghĩ khác về ông. Một ông trùm làm ăn có luật và rất tình người khi chuyến hàng đầu tiên lăn bánh về Hà Nội an toàn tôi thầm cám ơn số phận, cám ơn những người dân đạo Kim Sơn thật thà chất phác.

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018

VỢ TÔI



Thơ vui ngày 20-10
VỢ TÔI

Không tu cũng ít lên chùa
Vợ tôi suốt tháng tứ mùa ăn kiêng

Mâm cơm có mấy món riêng
Đậu, vừng, đỗ, lạc ưu tiên nàng dùng
Thịt gà thì nói đau lưng
Thịt lợn lắm mỡ, coi chừng mất eo
Rau lang, rau bí, dưa leo
Lưng cơm, đến bữa đánh vèo là xong 
Thể dục mỗi sáng mấy vòng
Chiều tà xe đạp, thong dong bạn bè
Báo đài, chịu khó lắng nghe
Giảm cân tăng lực, đường chè tránh ăn
Đã qua cái buổi nhọc nhằn
Phát phì càng đẹp lăn tăn làm gì
Văn nghệ son phấn mỗi khi 
Tôi nhìn duyên dáng, khác gì năm xưa. 
20-10-2018

TRẬN CUỐI


TRẬN CUỐI
Hồi ký
Ngày 15-4-1975
-Tiểu đoàn tôi nhiệm vụ giữ chân sư 18 của địch tại Hố Nai Biên Hòa, tôi trung đội trưởng trinh sát được điều sang làm đại đội phó đại đội 1 chốt giữ đồi phía tây, cách sân bay khoảng 5km.
Đứng trên đỉnh đồi về đêm trong làn gió mát, nhìn ánh điện sáng đủ màu lấp loáng rất đẹp bởi mấy năm ở rừng chúng tôi chưa bao giờ được chiêm ngưỡng. Mỗi lần máy bay lên xuống, gầm rít inh tai, đèn pha sáng rực một khoảng trời. 
Gần sáng đào và ngụy trang xong công sự, chưa ai kịp chợp mắt thì phát hiện, dưới chân đồi có rất nhiều lính VNCH lưng đeo ba lô tay nhăm nhăm súng đang tiến lên chốt. Lấy khẩu B40 trong tay cậu Toàn tôi lắp đạn nhằm vào toán lính xiết cò. Một tiếng nổ vang khói đen mù mịt, tai tôi ù đi. Không đầy phút sau, thấy tê dại bên chân ngã văng khẩu súng , máu chảy xuống ống quần, anh em vội đưa tôi vào công sự. Thì ra khi tôi bắn quả B40 trời vừa mới sáng sương mù còn đặc quánh khói chậm tan, địch phát hiện mục tiêu liền câu M79 tới và tôi đã bị mảnh đạn xuyên vào hông. 
Lúc này các đại đội khác cũng đồng loạt nổ súng. Địch 3 lần lên, ba lần bị đẩy lùi tới chiều tối chúng rút về bốt và cho pháo binh cùng máy bay ném bom hủy diệt trận địa. Phía ta bị thương và hy sinh nhiều nhưng vẫn quyết tâm giữ vững trận địa. Trung đoàn lệnh tiểu đoàn 2 lên chi viện đồng thời tổ chức chuyển thương binh liệt sĩ về phía sau
Tôi được mấy anh em bộ phận hậu cần quân y cõng và đưa xuống, dưới làn pháo 105 ly bắn loạn xạ. Tôi bảo với anh em:
-Mình bị thương chân vẫn bò được mọi người hãy tập trung lo cho những người nặng hơn
Đến nửa đêm thì hầu hết thương binh liệt sĩ đã được đưa xuống chân đồi và đi về trạm quân y tiền phương cách khoảng 5 km đường rừng, các liệt sĩ thì đưa về vị trí chôn cất nơi định trước, đã đánh dấu trên bản đồ để sau này dễ tìm.
Nằm trên võng, tôi thương anh em quá cứ ba người một võng thay phiên nhau, đêm rừng tối không nhìn thấy đường, Người đi đầu đèn pin bịt chặt ánh sáng chỉ nhỏ như con đom đóm soi đường mòn, người sau theo người trước , dốc đá gập ghềnh, bước chân xiêu vẹo, nhưng mọi người quyết không để thương binh đau thêm. Về đến đội phẫu, mọi thương binh được cấp cứu và sơ cứu, sáng ra lại tiếp tục chuyển về bệnh xá phía sau. 
Bệnh xá K32 của quân khu đóng ở sát bờ sông Đồng Nai. Từ đây đến trạm không biết bao nhiêu xa mà phải đi từ sáng tới chiều. Qua biết bao đèo suối, có những lúc qua cầu cầu độc mộc chỉ một cây gỗ, trên có dàn tay vịn rất nguy hiểm, tôi mệt quá, nằm trên võng ngủ li bì, mê man có lúc hét rất to các đồng đội đang khiêng phải dừng lại gọi, tôi bừng tỉnh mồ hôi vã ướt cả áo. Mọi người nghỉ chân, nhìn sang võng cạnh thấy có người phủ chăn kín mặt tôi liền hỏi: 
-Bạn bị thương vào đâu? không thấy trả lời .
Một lát sau có cậu lính quân y lên tiếng nói:
- Cậu ấy hy sinh rồi nhưng chúng tớ cố đưa về, vì cũng sắp đến trạm. ( Thường thì khiêng thương binh như thế này bộ phận quân y mang theo thuốc và dụng cụ cấp cứu, cùng cả cuốc xẻng nếu như giữa đường có sự cố, không cứu được thì tìm chỗ mai táng rồi vẽ sơ đồ mang về.)
5 giờ chiều tới bờ sông, bên kia là trạm xá, do tránh máy bay địch, tối hẳn mới có xuồng sang đón. anh chị em trong trạm ra tận nơi đưa thương binh vào hầm thắp đèn cấp cứu. Còn tôi được đưa vào lán trung thương (Nơi cho những người bị thương ở mức độ trung bình) Lúc này tôi cảm thấy đói mệt vô cùng, mở mắt nhìn rồi lại thiếp đi, bỗng nghe có tiếng gọi và một bàn tay mềm mại nhẹ nhàng lay lay:
-Đồng chí ơi dậy ăn cháo.
Ôi không biết là tỉnh hay mơ đây, một giọng nói dịu dàng của phụ nữ trong không gian tĩnh lặng không tiếng súng mà lâu lắm tôi mới được nghe. Rồi không biết vì mừng hay vì cảm động tự nhiên hai hàng nước mắt tôi chảy dài. Cô y tá mặc áo bà ba đen quấn khăn rằn tay bưng bát cháo.
-Anh cứ nằm yên để em bón cho. Tôi như đứa trẻ há miệng nhấp nháp hương vị thơm ngon của thìa cháo, tận hưởng sự ân cần như của người mẹ, người chị, người em mà đã lâu không gặp
Ăn xong cô y tá dặn:
-anh nghỉ đi ngày mai mổ để lấy đạn ra.
Giữa làn bom đạn tôi không sợ mà nói đến tiêm với mổ mà tôi lo và hồi hộp quá.
Trưa hôm sau tôi được bác sĩ dìu lên bàn mổ, nói là bàn mổ thực ra chỉ là cái chõng tre được trải ni nông và khử trùng. Nằm trên bàn người tôi run cầm cập, bác sỹ hỏi:
-Đồng chí rét hay sao, tôi trả lời vâng.
Anh gọi người mang chậu củi đang hồng than để dưới gầm bàn.
- Tôi trấn tĩnh nói: dạ ổn rồi ạ 
Kíp bác sỹ bắt tay làm việc họ cắm xung quanh vết thương 3 chiếc kim tiêm rất to và dùng xilanh thuốc tê bơm vào, một lát hỏi tôi:
- Còn đau không? tôi trả lời không.
Nằm úp sấp mặt, phần trên che chăn tôi nghe rõ tiếng dao kéo cắt thịt sồn sột và họ nhắc tôi thấy đau thì bảo. 30 phút sau thấy có người nói:
- Thôi khâu vào nếu mổ sâu đứt dây thần kinh tọa sẽ teo chân, để sau này ra Bắc mổ tiếp.
Tất cả đồng ý, đợi băng bó xong tôi ngoảnh lại hỏi? Một anh bác sỹ trả lời ổn rồi chỉ một tuần là lành thôi, nhưng tôi biết….
Bao ngày vào chiến dịch mệt mỏi căng thẳng, giờ không phải lo gì nữa tôi ngủ ly bì 2 ngày liền. đến giờ thay băng , tiêm thuốc mới tỉnh dậy.
Ngày thứ ba trở đi không ngủ được nữa, tôi tranh thủ viết nhật ký và mở đài theo dõi chiến sự. Tư Yên là cô y tá đêm hôm ấy hàng ngày vẫn thay băng và cơm nước cho lán tôi lúc rỗi việc nàng thường hỏi thăm chúng tôi quê ở tỉnh nào ngoài bắc, rồi cô tự giới thiệu: em quê ở Long An vùng sông nước.
Còn chúng tôi về đây nhiều đơn vị mỗi người mỗi tỉnh khác nhau, cậu Hải nằm phía trong lên tiếng trước: 
- Tôi ở Bắc Ninh quê hương Quan họ đây.
Tư Yên liền cất tiếng hát: “Ăn một miếng trầu, gặp đây ăn một miếng trầu\ không ăn cầm lấy…, không ăn cầm lấy cho nhau bằng lòng /miếng trầu là miếng trầu vàng” ôi một giọng quan họ pha chất nam bộ sao mượt mà đến thế rồi nàng kể:” ba mẹ em quê ở Bắc Ninh vào Long An từ năm 1954, em sinh tại đây nên giọng pha chút nam bộ. Ba mẹ em hát quan họ rất hay, nhưng do tục lệ liền anh, liền chị không được lấy nhau nên ba mẹ đã trốn nhà cùng đoàn người vào nam, để được sống bên nhau 
Sau mười ngày vết mổ đã lành nhưng chân bị tê teo do mảnh đạn nằm sát dây thần kinh tọa đi lại phải chống nạng. Lúc này đang chiến dịch lớn, thương binh về nhiều những trường hợp như tôi được chuyển về trạm ăn dưỡng quân khu chờ về đơn vị chiến đấu. Nhưng cũng thật bất ngờ lần bị thương thứ 2 này, cũng là trận chiến cuối cùng trong đời binh nghiệp của tôi.
Khảnh khắc khó quên 
39-4-1975 
Chiến dịch HCM đang vào thời kỳ quyết liệt, chiến thắng Xuân lộc thắng lợi, đây được coi là trận Điện Biên Phủ thứ 2 mở đường cho đại quân ta tiến về Sài gòn
Nằm trong lán tre của trạm nghỉ dưỡng T35, chúng tôi lúc bấy giờ đều là thương binh, nặng có nhẹ có, với chiếc Radio bên mình từng ngày liên tục theo dõi tin chiến thắng trên Đài phát thanh Giải phóng, 
Rồi những gì mong ước đã đến đúng 11h 30 giờ ngày 30-4-1975 một bản tin được phát ra Dương văn Minh đã đầu hàng, miền nam hoàn toàn giải phóng, chúng tôi, cả trạm như vỡ òa ra reo mừng, tay tôi cầm chiếc Radio rơi lúc nào không biết. Bài hát giải phóng miềm nam được cất lên, chẳng ai bảo ai họ hát say sưa như chưa từng được hát.
Đồng chí trưởng trạm đứng giữa lán hô to hôm nay không cần theo chế độ khẩu phần, sẽ mở kho để anh em ăn mừng chiến thắng
Chúng tôi vừa hát vừa khóc, khóc vì mừng, khóc vì tiếc nuối, giá không bị thương, giờ này đang cùng đồng đội tiến vào dinh Độc lập hoặc hòa trong không khí nhộn nhịp cờ hoa của người dân trên từng đường phố Sài Gòn. 
ĐTK