Thứ Tư, 29 tháng 8, 2018

MÙA NHÃN

Truyện ngắn
MÙA NHÃN
Hai bố con ông Hoàn dùng lưới cố vén những chùm nhãn trĩu quả sà xuống ven đường, sợ xe qua lại làm rụng . Nhãn năm nay được mùa, chả là vào dịp tháng hai nhãn ra hoa không bị mưa phùn gió bấc, quả chi chít từng chùm như tranh vẽ. Vừa làm thằng Tú vừa nói với ông:
- Bán nhãn xong bố mua cho con chiếc xe máy, bố nhé.
- Ông cười nhìn con rồi gật đầu
Ông cũng hình dung mỗi cây nhãn to nhỏ bình quân chắc cũng đạt 2 tạ mà nhà ông có tới 5 sào ruộng với hơn 50 cây chắc chắn cũng trên mươi tấn quả. Được mùa rớt giá, cũng may ông trồng xen lẫn nhãn sớm được ghép mắt với giống nhãn đường phía nam , quả vừa to vừa ngọt lại được giá, còn phần lớn vào giữa vụ là nhãn lồng cùi dày ngọt thanh. Bên cạnh những hàng nhãn muộn là những dẫy ổi cũng đang vào mùa thu hoạch quả to như nắm tay người lớn, được bọc những vỏ giấy tránh côn trùng trông thật đẹp mắt.
Hai bố con hai luồng suy nghĩ, thằng Tú năm nay học đại học nông nghiệp năm thứ hai ở Hà Nội, nó cũng có sở thích giống bố cứ về đến nhà là sớm tối ngoài vườn, nào là trồng, ghép cây với các loại giống mới nó học được ở trường, cùng sưu tầm các loại hoa đẹp, năm nay có xe máy chắc tuần nào nó cũng được về thăm vườn.
Còn ông Hoàn lại hình dung cũng mùa nhãn năm ấy, cũng gần 30 năm rồi còn gì, ông về trọ học trung cấp cơ khí sơ tán về Khoái Châu- Hưng Yên, vùng châu thổ sông Hồng đất rộng người thưa, lúc đó đồng chưa trồng nhãn nhiều như bây giờ mà chủ yếu là chuối , đay và lúa. Ông nhớ lại những ngày giúp dân thu đay bẻ nhãn thật là vui. Cạnh nhà ông trọ có người con gái cũng xấp xỉ tuổi ông, nàng rất xinh đôi mắt bồ câu, da trắng mịn màng gò má lúc nào cũng ửng đỏ như son phấn. Ông thường sang bẻ nhãn giúp nhà nàng, với vẻ thư sinh đẹp trai nhưng lại dát gái, bởi vì thời ấy nhà trường biết quan hệ yêu đương trong khi còn đang học nhất là với dân thì sẽ bị phê bình. Nhưng rồi tình yêu đến bao giờ không biết, hai người ngày càng quấn quýt. Vào chiều tối thứ bảy hàng tuần nàng hay đưa ông ra bờ sông Hồng hóng mát ngắm trăng và nàng kể cho ông nghe truyện truyền thuyết quê nàng.
Đêm ấy mặt sông Hồng được phủ kín màu vàng của ánh trăng càng trở lên huyền ảo, sóng nước lung linh như dát bạc, nàng chỉ tay sang bên kia là bãi Tự Nhiên nơi mà Chử Đồng Tử vùi mình trong cát rồi gặp công chúa Tiên Dung, một thiên tình sử hàng ngàn năm còn lưu truyền. Nhìn lên phía trên là đền thờ của ngài, thấy vẫn sáng ánh đèn, nàng liền dắt tay ông lần từng bậc đá in đậm ánh trăng vào trước tam quan, nhìn bảng chữ nho khắc trên cuốn thư đã bạc màu loang lổ vết sơn son chắc là cũng vài trăm năm chứ không ít. Hai người bước vào chính điện thắp hương rồi cúi người khấn vái để các ngài phù hộ cho con đường công danh và hạnh phúc lâu dài.
Quê ông ở vùng Kinh Bắc cũng là nơi có nền văn hóa quan họ và tâm linh đền miếu rất nhiều, mỗi di tích đều có sự tích riêng qua lời kể của bà của mẹ, nhưng khi được nghe nàng kể ông yêu quý nền văn hóa nơi đây vô cùng. Ông hình dung mối tình của ông và nàng đến với nhau một cách tự nhiên cũng đẹp và thơ mộng không kém.
Một hôm cũng vào đêm trăng sáng hai người vẫn hẹn hò bên sông, ông hứa hẹn đưa nàng về thăm Kinh Bắc thưa cùng cha mẹ, nàng cười e thẹn rồi hai người ôm nhau.
Nàng khẽ kêu: đừng anh em sợ .... để …để….về thưa với bố mẹ đã. Những động tác ngăn cản nửa vời như chờ đợi hai môi gắn quyện với nhau và họ đã làm chuyện vợ chồng.
Thế rồi kế hoạch về Kinh Bắc đã không thực hiện được bởi lúc đó ông được lênh nhập ngũ tại trường, khi chia tay, nàng khóc rất nhiều hứa sẽ đợi chờ ông dù bất cứ hoàn cảnh nào và ông cùng thề nguyện nếu còn sống sẽ về tìm nàng.
Cuộc chiến tranh ngày càng ác liệt mở rộng cả 2 miền. Huấn luyện 3 tháng đơn vị ông được điều vào miền đông Nam bộ,. Những ngày hành quân, những trận công đồn lúc nào ông cũng nghĩ về nàng, mùa nhãn năm nay không có người hái không biết nàng xoay sở ra sao. .
Trưởng thành trong chiến đấu ông đã là cán bộ tiểu đoàn, mỗi lần đón tân binh ngoài Bắc vào ông lại dò hỏi có ai Hưng Yên quê nhãn không, nhưng vẫn biệt tin nàng. Ngày giải phóng miền nam đã đến, ông lại vùi đầu vào bao công việc của ban Quân quản để ổn định kinh tế, chính trị sau chiến tranh. Thế rồi cuộc chiến phía Tây Nam lại nổ ra và đơn vị ông được điều ra biên giới, chống quân Khơ Me đỏ trong một trận chiến ông bị địch bắt. Chúng tra tấn khai thác, ông kiên quyết không khai sau đó bị đưa vào nhà giam sâu trong đất Miên.
Đất nước thống nhất đã lâu, hết lớp này lớp khác từ Nam ra nhưng ông vẫn biền biệt. nàng chỉ biết quê ông ở Bắc Ninh chứ còn thôn xã nào nàng đâu biết rõ có thể ông đã hy sinh và cũng có thể ông đã về lấy vợ khác. Nếu như không giữ được lời thề xưa thì có tìm được nhau cũng vô ích mà thôi. Nghĩ thì nghĩ vậy nhưng nàng vẫn tin rằng ông sẽ trở về.
Sau đêm ấy bên bờ sông, nàng thấy trong người khang khác biết đã có thai cha mẹ nàng rất buồn vì lộ ra cả làng, cả họ sẽ xỉ vả vì nhà có con gái chửa hoang. Cũng may nàng có ông chú ruột đi khai hoang ở Phú Thọ cho nàng lên ở trên ấy vài năm sinh nở xong con cái chững chạc rồi mới về quê. Từ đấy mẹ con nàng luôn sống trong đau khổ và chờ đợi. Cũng có mấy đám trong làng ngỏ ý nhưng nàng chối từ, cô con gái ngày mỗi lớn có nhiều nét giống cha, nàng vẫn củng cố niềm tin với con gái rằng:
- Thế nào cha cũng tìm về.
Chiến tranh phía Bắc, tây Nam đã yên, cả nước tập trung vào khôi phục kinh tế nhưng nước mắt hy vọng và chờ đợi vẫn luôn hiện hữu trong nàng.
Tình hình chính trị Căm Phu Chia đã ổn định, ông được đưa về Việt Nam, nhưng do bị tra tấn nhiều trong tù có lúc tưởng như không sống được cho nên sức khỏe rất yếu cùng vết thương thấu phổi, ngày đêm những cơn ho kéo dài hành hạ nên đơn vị chuyển ông vào viện quân y QK 7 điều trị và an dưỡng.
Ông nhớ nàng nhớ cái vùng quê nhãn, đã bao lần ông viết thư nhưng lại nghĩ từng ấy năm không biết nàng còn chờ đợi hay đã lấy chồng, thư viết lại cất đi không dám gửi
Một hôm có cậu bác sỹ mới ở Bắc vào quê Khoái Châu Hưng Yên, ông xoắn xuýt hỏi thăm thì ra cậu ta đúng cùng quê nàng, nhưng lại không biết tin tức gì bởi cậu ta thoát ly đi học xa nhà đã lâu, và cậu ta hứa sẽ viết thư về hỏi giúp ông.
Trong phòng cấp cứu và hồi sức sau khi mổ, ông còn đang thiêm thiếp miệng thở o xy, thì bên ngoài có người phụ nữ cùng đứa con nhỏ chừng hơn 10 tuổi tay xách, nách ôm hỏi thăm anh bác sỹ cùng quê và bệnh nhân tên là Hoàn, chị tự giới thiệu là vợ con từ Bắc vào thăm. Mở cửa phòng hồi sức, chị ngỡ ngàng nhìn ông một lát mà không dám nhận. khi thấy cánh tay ông có xăm hai chữ "Hoàn Hương" thì chị lao vào khóc nấc lên: Anh Hoàn ơi…anh tỉnh lại đi….. em đây… Hương đây… anh còn nhớ vùng nhãn quê mình không em mang nhãn vào cho anh đây. Mấy cô y tá vội dìu chị ra ngoài và nói:
“ Không sao đâu ca mổ rất tốt đã lấy được đạn ra khỏi phổi một giờ nữa hết thuốc mê là anh ấy tỉnh thôi chị yên tâm”
Con bé theo mẹ đi xe mấy ngày đã thấm mệt, nó hỏi mẹ ơi người nằm đấy là cha con hả mẹ. Nó nghe mẹ nói vậy nhưng vẫn là lạ thế nào ấy vì từ nhỏ nó chưa biết cha mà cả tấm ảnh cũng không có. Trời đã xế chiều hai mẹ con hồi hộp lo lắng ngồi trên chiếc ghế đá ngoài phòng chờ thì có cô y tá ra bảo:
- Anh ấy tỉnh rồi chị và cháu có thể vào.
Bỏ cả đồ đạc chị ào vào, nắm tay anh gọi trong nước mắt:
-Anh Hoàn… anh Hoàn ơi có nhận ra em không, Hương đây mà, Hương Xứ nhãn đây anh.
Hai giọt nước mắt lăn ra trên hai khóe mắt đầy vết chân chim của Hoàn, anh cựa mình xem có phải mơ không.
Hương gọi con:
vào với cha đi con
Đứa bé rụt rè, nàng kể:
- Sau thời gian anh đi em đã sinh con năm nay nó 12 tuổi rồi đấy.
Đúng rồi Hoàng chia tay Hương nay cũng gần 13 năm rồi còn gì. Hoàn sung sướng vẫy tay, con bé nhào vào:
-Cha …cha ơi.
Nàng lấy khăn thấm nước mắt trên má ông và nói:
- Anh cố điều trị mau khỏe, còn về với mẹ con em.
Một năm sau bình phục ông được ra Bắc, về quê báo cáo chính quyền cùng họ hàng hai bên gia đình, ông và Hương đã chính thức là vợ chồng , mọi người chúc mừng khen Hương, có tình có nghĩa trời đã bù đắp lại.
Vợ chồng con cái đưa nhau về quê nội một thời gian rồi lại về Hưng Yên bởi ông bà ngoại không có con trai năm nay lại yếu nhiều. sau vài năm thì Hương lại có bầu và sinh con trai và chính là thằng Tú bây giờ. Nhưng số phận thật trớ trêu, lần sinh này do tuổi hơi cao, Hương khó đẻ và mất máu nhiều phải đưa lên viện tỉnh nàng đã sinh con xong thì lên cơn co giật và không cứu được. Hoàn như người mất hồn ông ôm con khóc nức nở, họ hàng hai bên nội ngoại tập trung lo tang cho Hương. Và từ đấy ông một mình gà trống nuôi con. Những ngày đổi gió trở trời con khóc, bố khóc hàng xóm ai cũng thương cảm, may còn ông bà ngoại lo lắng cho. Vết thương trong lòng ông cũng lành dần, thời buổi kinh tế khó khăn đồng tiền trượt giá, lương thương binh chẳng là bao, ông tìm làm bất cứ việc gì, kể cả đi buôn miễn có tiền đong gạo nuôi con. Vài năm sau ông bà ngoại mất còn lại ba cha con, bé Hường lớn đã học xong đại học xin việc ở Hà Nội và lấy chồng, ở nhà còn hai bố con với 5 sào ruộng theo trào lưu chung, ông không cấy lúa mà trồng nhãn. Cây nhãn mà ngày xưa ông vẫn trèo hái cho nàng nay đã thành cổ thụ nhưng do được chăm sóc, cấy ghép quả rất sai to và ngọt, cứ khi thu hoạch nhãn là ông lại hái những chùm to nhất về thắp hương cho vợ, rồi ông ra bãi sông Hồng nơi kỷ niệm một thời, ngồi ngắm nhìn dòng nước chảy.
Tú con trai ông học xong cấp 3 nhiều người tư vấn thi ngành này, ngành nọ nhưng cậu không nghe, kiên quyết thi vào trường nông nghiệp. Nguyện vọng khi học xong sẽ về quê chăm vườn nhãn mà bố mẹ cậu đã từng yêu quý
Bỗng có người hàng xóm qua đường nói vọng vào:
- Nhãn nhà ông năm nay quả to và đều, sáng vỏ dễ bán, và nghe đâu lễ hội nhãn tỉnh ta vừa ký xuất bán với nước ngoài rất nhiều.
Ông cười:
-Vâng tôi cũng nghe vậy
Để con buộc nốt tấm lưới treo quả, ông đi sâu vào vườn đúng nơi cây nhãn cổ chọn những chùm quả to và đẹp nhất mang về.
25-82018

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2018

CON VỀ THĂM MẸ

CON VỀ THĂM MẸ
Kính tặng mẹ Bẩy xã Đông Kết - Khoái Châu – Hưng Yên


Con về thăm mẹ hôm nay
Chiều thu Đông Kết, đắm say nghĩa tình
Một vùng hoa trái tươi xinh
Nhãn lồng trĩu quả, xứ mình bao la

Bữa cơm đặc sản tại nhà
Mừng vui mẹ đón con xa trở về
Thảo thơm chân chất hương quê
Ngọt bùi thấm đẫm đất lề thói quen

Rượu thơm nếp cái say men
Nâng ly con chúc mẹ hiền an khang
Mẹ đâu có ước giàu sang
Cháu con mạnh khỏe, bạc vàng là đây

Vu lan tình mẹ cao dầy
Một đời vất vả hao gầy vì con
Như vầng trăng khuyết lại tròn
Mong mẹ mãi khỏe, con còn về thăm.
Đỗ Trọng Kim

Thứ Tư, 15 tháng 8, 2018

VIẾT TẠI VŨNG CHÙA


VIẾT TẠI VŨNG CHÙA

Vũng Chùa con đến chiều nay
Thông reo níu gió đong đày tiếng chim
Đọng trong vách đá nổi chìm
Lời ru quê mẹ trong tim nghẹn ngào

Hạ vàng cái nắng chênh chao
Hương hoa, nhang khói quyện vào trời xanh
Xa xa đảo Yến như thành 
Chở che giấc ngủ yên lành Bác ơi

Vì dân vì nước một đời
Bỏ qua tất cả, những lời nhục- vinh
Đi đầu hai cuộc trường chinh
Pháp thua, Mỹ cút đất mình tự do

Trên cao Bác ngắm con đò 
Dập dềnh sóng nước, giọng hò quê hương
Nghĩ về biển đảo còn vương
Tiền tiêu Bác gác canh trường cho dân

Cần đâu chức, vị thánh thần
Cuộc đời vô sản ngàn lần sử ghi
Rừng xanh, trăng, gió thầm thì
Mùa thu vĩnh cửu, bước đi của người
Quảng Bình 5-7-2018.


KIẾP NGƯỜI

KIẾP NGƯỜI
Truyện ngắn
Bỗng có tiếng kêu hốt hoảng của lũ trẻ con: “ ối giời ôi có người chết trên cầu”, mới sáng ra mọi người còn chưa đi làm, nghe tiếng kêu vội vàng lục tục chạy ra.
Cây cầu được ghép bằng hai cây gỗ qua một con sông đào chừng hai chục mét để dân xóm hàng ngày đi làm, hoặc đi chợ. Đúng rồi! có gã đàn ông trạc tuổi trung niên nằm sấp trên cầu, hai tay, hai chân buông sõng không biết còn sống hay đã chết, quần áo lấm lem đất bùn. Mấy bà đàn bà sợ quá chắp tay vái lia lịa, người xóm kéo ra ngày một thêm đông.
Ông Thanh trưởng thôn ngủ dậy còn mặc quần đùi, áo cộc cùng anh thư ký đội sản xuất giấy bút trên tay như sẵn sàng lập biên bản. Mọi người giãn ra nhường lối, ông nắm tay dàn vịn đi dần ra, đến nơi từ từ cúi xuống nhìn, thấy cái xác động đậy rồi rên khe khẽ. Ông lay người nâng đầu lên thì nhận ra lão Quậy ở xóm giữa, với hơi rượu nồng nặc, xen lẫn mùi khai khai của thứ nước thải còn ướt đẫm đũng quần, ông vội bịt mũi lùi lại rồi huy động cánh thanh niên từ từ đưa lão vào bờ.
Lão Quậy chừng độ ngoài năm mươi nhưng trông hắn như gần bảy mươi tóc bạc lốm đốm, lúc nào cũng bộ quần áo bộ đội cũ đã vá vài miếng, mặt mũi sần sùi vết sẹo, hai mí mắt sụp xuống, cánh mũi to đỏ mọng như quả cà chua. lão đi đến đâu là trẻ con lánh xa bởi mùi chua chua của người ít tắm phả ra cùng mùi rượu. Mấy bà dỗ trẻ toàn lấy lão ra để dọa : Ăn đi, nín đi, không lão Quậy đến bây giờ thế là bọn trẻ im thin thít.
Ngày mới nhập ngũ lão cũng đẹp trai lắm chứ, về phép đi B trong bộ quân phục gabadin TQ xanh màu lá cây, trên ve áo quân hàm binh nhất đỏ rực làm nao lòng các cô gái trong thôn. Nhà lão nghèo có mình là con một, nhưng do làm đơn tình nguyện lão mới được nhập ngũ, cha mẹ còn cả tuy chưa già nhưng cha lão mắc bệnh nên yếu lắm, kinh tế gia đình chủ yếu nhờ vào mẹ lão.
Ở chiến trường nghe đâu lão đã từng chiến đấu ở Tây Nguyên ba năm cũng có huân huy chương chiến dịch. Trong một trận chiến đấu ở Playcu năm 1974 lão bị thương vào chân và bỏng nặng do bom Napan, điều trị khỏi nhưng còn để lại nhiều vết sẹo ở trên mặt và thân thể. Thế là lão được ra Bắc. Về quê thì cha đã mất, lão rất thương mẹ nên đã xin phục viên về quê.
Thời bao cấp sau chiến tranh khó khăn mọi bề nhưng có 13 kg gạo phiếu, và phụ cấp thương binh mẹ con lão cũng không đến nỗi nào. Lão chịu khó dù là lên rừng xuống biển ai nói làm ăn được lão cũng theo, rồi lúc lại ở quê làm phụ xây, đóng gạch thuê cho mọi nhà, được cái là lão khỏe, hai bắp tay cuồn cuộn như dân tập thể hình, những ngày mưa đường trơn như đổ mỡ, bốn thúng phân lão gánh phăng phăng ra đồng. Tính hiền lành gặp ai cũng chỉ cười, lão chẳng ham chơi bời cờ bạc hay đàn đúm như một số thanh niên trong làng mà thú vui nhất của lão là thuốc lào và nước chè.
Đối với phụ nữ bấy giờ lão rất có giá, là bộ đội thương binh từ chiến trường ra , tuy mặt mũi có xấu đi chút ít nhưng lão vẫn là chàng trai cường tráng hiền lành nên nhiều người để ý. Lão lấy vợ, vợ tên là Thuần ở làng bên sắc đẹp thuộc loại trung bình nhưng được cái chịu khó. Sau thời gian nhờ mối hỏi, đám cưới được tổ chức nhanh chóng, thời ấy dăm bao thuốc nửa cân chè ra UBHC xã là xong.
Cuộc sống mưu sinh vất vả nhưng hạnh phúc, sau vài năm mẹ lão mất còn lại hai vợ chồng, cuộc sống cũng không khó khăn lắm bới cả hai cùng chịu khó. Nhưng nỗi đã 10 năm rồi mà vẫn chưa có con, bao tiền của dắt díu nhau bệnh viện này sang bệnh viện khác nhưng cũng không kết quả. cùng tuổi như lão lúc này mọi người đã có con đi học. Vợ lão lúc nào cũng thở dài, trong nhà mong có tiếng khóc trẻ thơ.
Làm ăn ngày một khó khăn ba gian nhà tranh không đủ rạ để lợp, mưa gió dột tứ tung, lão dạo này dở chứng ốm đau luôn, lão bàn xin con nuôi nhưng vợ không đồng ý. Nhiều lúc buồn lão thường uống rượu dải khuây rồi nói lung tung. Nhưng khi bình thường lão là người tốt nết ai nhờ gì cũng giúp đến nơi, đến chốn, mổ lợn làm cỗ cả đêm không ngại ngần. Gia chủ biết tật hay uống rượu nên khi về dúi thêm cho lão chai rượu và ít đồ nhắm lão cười tít mắt, dần dà con ma men đã ngấm vào lão, sinh tính đổi nết vợ chồng cãi nhau luôn.
Nghe một số chị em rủ rê, vợ lão bàn: bây giờ rảnh rỗi mình ở nhà, tôi đi phụ hàng cho các chị xóm bên, lên Lạng Sơn mang hàng về xuôi công mỗi tháng bằng cấy cả vụ. Lúc đầu lão quyết không nghe nhưng sau nhiều lần lão cũng phải đồng ý.
Thuần theo mấy người lên Lạng sơn lúc thì gánh thuê, lúc thì giúp việc cho một cửa hàng tối về ở trọ ngoài xóm bãi bìa rừng, tuy vất vả nhưng thu nhập cũng được, mỗi tháng về một lần sau thưa dần, rồi không về nữa. Có tin đồn cô Thuần vợ lão cặp kè với một tay cửu vạn ở Lạng sơn đã có con với nhau, cũng có tin Thuần sang TQ lấy chồng. Ai hỏi lão Quậy cũng cũng chẳng hé răng, hàng ngày đi về như một cái bóng, buồn lão lại uống rượi giải sầu. Vợ bỏ đi lão đã linh cảm từ trước nhưng cái không ngờ là nó xảy ra quá nhanh và đúng thời điểm này mà thôi. Dạo này ít việc làm, lão sống nhờ vào tiền trợ cấp thương binh, vài củ khoai, gói mỳ tôm là xong bữa, riêng có rượu thì không thể thiếu
Càng ngày sức khỏe càng giảm, thời gian say nhiều hơn tỉnh, lúc tỉnh thì lão lầm lũi, lúc say thì lão khóc, khóc rồi lại chửi. Lão căm thù đàn bà, lão chửi tất cả đàn bà trên thế gian này, nhất là Thuần người vợ mà lão rất yêu quý, đã phản bội lão.
Thường ngày lão mua rượu ở quán đầu làng, có tiền thì trả , hết tiền mua chịu,. Một hôm bà hàng rượu khuyên can: “ uống ít thôi kẻo ảnh hưởng sức khỏe”, lão liền trợn mắt, hai má loang lổ sẹo thâm như hai miếng thịt trâu giật lên, chùng xuống trông mà khiếp. Nhưng được cái cứ đầu tháng có phụ cấp là lão trả hết thiếu mua chịu sau. có rượu như tiếp thêm sức sống, hắn lại chửi bới, hàng xóm xung quanh quen tai chẳng lạ gì, người ta gọi lão là Chí Phèo thời mới, có đợt mấy ngày lão chẳng ra khỏi nhà, ăn mỳ tôm, tu rượu, say lại chửi, chửi rồi lại ngủ,
Hôm nay gã chuẩn bị đi làm thì có tiếng gọi, lão mở cửa thì ra vợ lão về, tay xách nhiều thứ, mới có vài năm mà trông cô nàng trẻ ra vài tuổi khuôn mặt tươi rói, thân hình khúc nào ra khúc ấy, lão mừng quá thế là từ nay hắn hết cô đơn và không uống rượu nữa vợ chồng hạnh phúc, vợ lão có mang chín tháng sinh con trai bụ bẫm, vợ lão nựng: “thằng Quậy con của mẹ giống bố ghê này”. rồi thằng bé cứ mỗi ngày, mỗi lớn biết tiếng gọi pa, pa.. vui lắm, lão sắm chiếc xe đạp thật đẹp để hàng ngày chở con đi chơi khoe với thiên hạ. Nhưng rồi những giọt mưa trái mùa xuyên qua mái rạ đã cùn nát rơi xuống mặt, làm lão bừng tỉnh, thì ra là một giấc mơ, miệng lão vẫn tóp tép như cố nhấm nháp hương vị hạnh phúc ngọt ngào đang còn vương vất nơi đây.
Rồi lão lại tu rượu, chán uống ở nhà, chửi không có người nghe thì lão ra quán, có hôm say quá nằm ngủ ngay rãnh nước ven đường, thậm chí lên cả cây cầu để ngủ.
Hai hôm liền không thấy lão chửi, cửa liếp ba gian nhà tranh vẫn đóng im ỉm, hàng xóm thấy lạ báo với thôn, tổ bảo vệ đến gọi không thấy tiếng trả lời liền đẩy cửa vào, mọi người hoảng hồn chạy ra lão..lão Quậy… đã chết, thân cứng đờ nằm nguyên dưới đất. Được tin họ hàng vội cho người đến nhà dọn dẹp, khâm liệm chuẩn bị đám tang. Lúc truy điệu người ta phủ lên quan tài lá quốc kỳ, và hai hàng tiêu binh đứng nghiêm trang, dù sao lão cũng là CCB.
Nhiều người thở dài…. thôi thế cũng xong một kiếp người. Khi trưởng ban tang lễ đọc lời điếu và thông báo: lão có cả Huân chương chiến công và huy hiệu chiến dịch, còn tờ giấy này là xét nghiệm ở bệnh viện, lão bị vô sinh do chất độc da cam, điều này lão đã dấu vợ. Những giọt nước mắt cảm thương lăn dài trên gò má những người đến đưa tang, họ bảo nhau thôi thì vẫn còn may cho lão, chứ sinh ra vài đứa con, người chẳng ra người, thú chẳng ra thú thì còn khổ đến bao giờ.
2-8-2018 Đỗ Trọng Kim

TẬP THƠ YÊU

TẬP THƠ YÊU
Thân tặng nhà thơ: Nguyễn Thị Thúy Ngoan


Bông hồng trước bão liêu xiêu
Em như ngọn khói lam chiều bơ vơ
Cô đơn dồn cả vào thơ
Nhớ ai bến thực, bến mơ cháy lòng

Cảnh nghèo xưa dám ước mong
Con đò nay đã theo dòng trôi xa
Bồng bềnh lục tím sắc hoa
Nổi chìm sông nước phôi pha tháng ngày

Em là trái ớt không cay
Là bình rượu rỗng những ngày không nhau 
Ngả nghiêng thân liễu, thân cau 
Lời thơ xoa dịu đắng đau phận đời

Bổng trầm nốt nhạc đầy vơi
Em bông hồng thắm, đỏ trời mùa yêu.

10-8-2018